chua dat to

Tuy An: Lễ huý nhật lần thứ 278 Tổ Sư Liễu Quán tại chùa Cổ Lâm – Hội Tôn

Chùa đất tổ

Sáng ngày 3/1/2021(nhằm ngày 21/11/ Canh Tý), tại chùa Cổ Lâm Hội Tôn (xã An Ninh Tây, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) đã trang nghiêm cử hành lễ tưởng niệm đức Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán, nhân kỷ niệm lần thứ 278 năm ngày viên tịch của ngài.

Quang lâm chứng minh và dâng hương tưởng niệm có HT.Thích Đồng Tiến – Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên; HT.Thích Nguyên Từ – Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh; HT. Thích Quảng Giải, TT. Thích Thông Hòa – đồng Phó Trưởng Ban Trị sự tỉnh, cùng chư Tôn đức Tăng, Ni, Phật tử trong tỉnh cùng về lễ Tổ.

Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức niêm hương lễ Phật và cầu nguyện tại chánh điện do HT.Thích Đồng Tiến làm chủ lễ, cùng tham dự có chư Tôn đức Tăng, Ni và Phật tử gần xa đồng hộ trì.


Đại đức Thích Nguyên Minh đọc tiểu sử đức Tổ Liễu Quán

Lễ tưởng niệm chính thức được cử hành tại Tổ đường nơi thờ hương án tôn nghiêm đức Tổ sư Liễu Quán. Sau đó, ĐĐ. Thích Nguyên Minh –  Phó trưởng Ban Thường trực BTS PG tỉnh đã cung đọc tiểu sử đức Tổ Liễu Quán.

Di ảnh đức tổ sư Liễu Quán

Tiểu sử Đức Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán

Đức Tổ sư họ Lê, húy Thiệt Diệu, hiệu Liễu Quán, sinh ngày 18 tháng 11 năm Đinh Mùi (1667) tại làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, nay là xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài xuất thân từ một gia đình nghèo khó, 6 tuổi mẹ mất, ở với phụ thân. Năm 12 tuổi (1678), ngài phát tâm xuất gia tu hành, được thân phụ đưa ngài đến chùa Hội Tôn, thọ giáo với Hòa thượng Tế Viên (người Hoa) được 7 năm thì Hòa thượng viên tịch. Tuổi đời còn nhỏ, tuổi đạo chưa cao, với quyết tâm cầu đạo, ngài không quản ngại gian lao tầm đường ra đất Thuận Hóa đến núi Hàm Long chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) cầu học với Giác Phong lão tổ (người Hoa), đó là năm Canh Ngọ (1690).

Vừa tròn 1 năm, đến năm Tân Mùi (1691), ngài phải bái biệt Giác Phong lão tổ để trở về quê hương phụng dưỡng cha già đau yếu. Hàng ngày, ngài phải lên núi đốn củi đem về chợ đổi gạo nuôi cha, chạy thầy, lo thuốc, chăm sóc phụ thân được 4 năm thì thân phụ qua đời.
Năm Ất Hợi (1695), ngài trở ra Thuận Hóa để tiếp tục việc tu học, cùng trong năm này ngài thọ Sa-di giới với Hòa thượng Thạch Liêm (người Hoa). Năm Đinh Sửu (1697), ngài thọ Đại giới với Hòa thượng Từ Lâm (người Hoa). Năm Kỷ Mão (1699), ngài bắt đầu cuộc hành trình tham vấn cầu đạo khắp các thiền lâm, chịu bao nhiêu điều khó khăn đạm bạc. Đến năm Nhâm Ngọ (1702), ngài đến núi Long Sơn chùa Ấn Tôn (Từ Đàm) bái yết Tử Dung Hòa thượng cầu dạy pháp tham thiền. Đến mùa xuân năm Mậu Tý (1708), Ngài trở ra Long Sơn cầu Hòa thượng Tử Dung ấn chứng.

Sau đó, ngài Liễu Quán vào núi Thiên Thai lập am tu thiền. Hằng ngày Tổ sống khắc khổ, đạm bạc bằng vật thực mọc ở ven hồ chẳng cần lương thực gì khác.

Trú xứ hóa duyên của ngài rất rộng, ngài thường xuyên ra vào Huế, Phú Yên để hóa đạo. Từ năm Canh Dần (1710) đến năm Tân Sửu (1721), Tổ đã chống tích trượng đi khắp nẻo làng quê của đất Phú Yên từ hòn Mõ, ra tận hòn Chuông để hoằng hóa chánh pháp, tiếp Tăng độ chúng, khai lập chùa chiền. Tổ đã khai sơn chùa Bảo Tịnh tại Tuy Hòa. Đến năm Nhâm Dần (1722), ngài trở ra Huế cùng với vị đệ tử út tên là Tế Vĩ trụ tại Thiên Thai Huyền Tôn tự tiếp tục việc hoằng hóa ở đất Thần kinh.

Năm Quý Sửu (1733), năm Giáp Dần (1734) và năm Ất Mão (1735), ngài được sự thỉnh cầu của các tông môn ở Huế, chứng minh các Đại giới đàn tại đây. Năm Canh Thân (1740), ngài tấn đàn Long Hoa phóng giới cho đàn hậu tấn. Thời ấy chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765) rất mến đạo hạnh của ngài nên thường đến chùa Viên Thông đàm đạo và thỉnh ngài vào cung để bàn luận Phật pháp nhưng ngài từ chối khéo không vào. Mùa Xuân năm Nhâm Tuất (1740), ngài làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn tại chùa Viên Thông.

Sáng ngày 22-11-Nhâm Tuất (1742), ngài vẫn dùng trà và đàm đạo cùng các đồ đệ. Đến quá trưa, Ngài hỏi mấy giờ, các đồ đệ thưa: Giờ Mùi, sau khi dạy đệ tử vài điều, ngài vui vẻ thị tịch, thọ 76 tuổi.

Nhục thân Tổ Liễu Quán tôn trí tại bảo tháp tổ đình Thuyền Tôn, trên núi Thiên Thai, Huế. Ngôi bảo tháp được chúa Nguyễn Sắc làm bia và xây dựng kiên cố, trải qua thời gian hơn hai thế kỷ mà vẫn giữ vẻ uy nghiêm mỹ lệ.

Trước khi ngài viên tịch, ngài phú pháp cho hàng đệ tử và truyền kệ như sau:

“Thiệt tế đại đạo,

Tánh hải thanh trừng,

Tâm nguyên quảng nhuận,

Đức bổn từ phong,

Giới định phước tuệ,

Thể dụng viên thông,

Vĩnh siêu trí quả,

Mật khế thành công,

Truyền trì diệu lý,

Diễn xướng chánh tông,

Hành giải tương ưng,

Đạt ngộ chơn không.”

Tổ sư Liễu Quán đã làm cho thiền phái Lâm Tế trở thành một tông phái đặc thù và linh động, có một nền móng vững chắc ở đàng Trong (tức là từ Thanh hóa trở vào). Trước khi Tổ Liễu Quán xuất hiện, thiền phái Lâm Tế ảnh hưởng của Trung quốc (vì có ngài Nguyên Thiều, ngài Thạch Liêm, ngài Tử Dung, v.v..). Chính Tổ Liễu Quán đã Việt hóa tất cả từ văn hóa, kiến trúc và nghi lễ, v.v…

Ngài có bốn vị đệ tử lớn: Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và Từ Chiếu.

(Từ Chiếu, húy Tế Căn. Khai sơn chùa Hồ Sơn, Tuy Hòa, Phú Yên)

Bốn ngài này đã tạo lập bốn trung tâm hoằng dương chánh pháp lớn lao khắp đó đây ở đàng Trong. Và từ thế kỷ thứ 18 trở về sau này nghiễm nhiên với danh xưng Thiền Phái Liễu Quán.

Được biết, sáng ngày 4/1/2021 (nhằm ngày 22/11/Canh Tý), tại tổ đình Bảo Tịnh lễ  tưởng niệm đức Tổ Sư Liễu Quán chính thức được cử hành, ngôi tổ đình do tổ khai sơn.

Dưới đây là một số hình ảnh:

Phật Giáo Sông Cầu-BBT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *