Ảnh màn hình 2026-02-03 lúc 14.27.21

ĐƯỜNG ĐI NHIỀU NGÕ

Viên Hạnh – Triều Tôn

Phần 8:

VỊ THẦY VIỆC CHI CŨNG HIỂU

Vào một đêm trăng tỏ sao thưa, trời trong vắt không một gợn mây, Thượng tọa trụ trì chùa Phước Điền([1])ở xã Xuân Cảnh ngồi trên tảng đá ở Đài Di Lặc xem tinh tượng, thấy sao bổn mạng của tôi mờ chiếu sắp rơi vào Trung Cung, là cung thứ 5 trong 9 cung.

Cửu Cung cụ thể thế này: 1. Khảm. 2. Khôn. 3. Chấn. 4. Tốn. 5. Trung. 6. Càn. 7. Đoài. 8. Cấu. 9. Ly.

Cung thứ 5 là Trung Cung, thuộc hành thổ, không có được sự che chở của một quái nào trong bát quái, nó lại thuộc hành thổ, nghĩa là đất, người ta thường nói bóng bẩy: “gần đất xa trời, chắc các vị cũng hiểu nghĩa là sắp lìa dương trần, sắp vào lòng đất lạnh.” Thượng tọa Quảng Đạo không nói thẳng với tôi là Đồng Tiến mà chỉ nói bóng bẩy: Hòa thượng ăn ít nhất cũng được 5 lần bánh tét. Chỉ tết mới được ăn bánh tét, 5 cái tết tức 5 năm. Trong 5 năm tới tôi có tâm nguyện tiễn đưa 5 vị Hòa thượng Trưởng lão về cõi an lạc. Trong thời gian cuối đời tôi, kể từ năm 2019, dịch cúm Covid 19, đến nay đã tiễn 4 vị Hòa thượng “cao đăng Phật Quốc”, đó là Hòa thượng Nguyên Cầu (chùa Long Khánh huyện Phú Hòa), vị thứ hai là Hòa thượng Tịnh Mãn (chùa Long Hưng Trị trấn La Hai), vị thứ 3 là Hòa thượng Giác Thuận (tịnh xá Ngọc Phú, thành phố Tuy Hòa), vị thứ thư là Hòa thượng Nguyên Lai (chùa Thiền Sơn, huyện Tuy An), và vị thứ 5 là…(?!)

Thưa quý vị độc giả, tôi xin kể câu chuyện sau đây, nếu quý vị nghe thấy vừa tai thì trợ duyên cho tôi, không biết thời gian bao lâu được mãn nguyện cung tiễn vị Hòa thượng thứ 5 về thế giới Đức Phật A Di Đà.

Chuyện như sau:

Tiết tháng Bảy đêm thu trừ tịch

Hạt mưa ngâu rả rích ngoài sân

Cuốc kêu khắc khoải trên ngàn

Tiếng gà eo óc báo tàn canh năm.

Suốt đêm hôm đó, Đại đức Trung Từ trụ trì chùa Phú Mỹ trằn trọc mãi không thể vỗ an giấc ngủ được. Nhiều tháng qua, dịch Covid hoành hành, đường xá bị chận gác, chùa vắng khách hành hương, thùng công đức trống rỗng. Đã vậy mà còn phải đóng góp công đức phí, tiền điện hàng tháng, tiền điện thoại, tiền internet, tiền cho người ăn xin, v.v. Thầy nghĩ không thể nào để tình trạng khốn đốn này kéo dài mãi được. Vắt hai tay lên trán nghĩ ra được diệu kế:

Thầy ngồi phắt dậy, rửa mặt, vệ sinh, lên điện Phật thắp 3 cây hương, thỉnh hồi chuông sáng, xuống bếp lục lọi còn ít cơm nguội chiều hôm qua, rót xì dầu, vắt miếng chanh, dằm trái ớt. Thế là được bữa ăn sáng. Trời rạng đông, thầy dắt xe ra cổng ngồi chờ. Nghe tiếng người rao bán cây giống ăn trái, thầy đón lại hỏi:

– Bán cây gì vậy?

– Ổi, chôm chôm, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc.

– Để đây tôi mua, xoài bao nhiêu một cây?

– Mười lăm nghìn.

– Lấy cho tôi hai chục cây.

Thầy đưa đủ tiền, không trả giá. Thầy ràn cẩn thận trên xe máy, rồi chạy thẳng ra chùa Phước Xuân, xã Xuân Hải. Người ta nói đất Xuân Hải ưa xoài lắm. Xe chạy được 40 phút gặp phải đinh tặc; tội nghiệp, thầy phải dẫn bộ mấy cây số mới tới tiệm sửa xe. Mồ hôi ra ướt hết cả áo.

Thượng tọa Trung Diên, trụ trì chùa Phước Xuân, đang quét sân, dừng chổi cười hỏi:

– Chở cây gì vậy?

– Cây xài.

– Xoài chớ sao lại xài?

– Xoài hay xài cũng được, một loại.

Thượng tọa Trung Diên mỉm cười bảo:

– Chở xoài đi đâu vậy?

– Em nghe đất Xuân Hải chịu xoài, chở ra nhờ sư huynh bán giùm.

– Lấy vốn bao nhiêu?

– Mười lăm ngàn một cây, bán lại hai lăm ngàn.

– Thôi tháo xuống để đó, vào uống nước nghỉ mệt.

Thượng toạ trụ trì pha cho sư đệ một tách cà phê, bảo:

– Uống đi cho khỏe.

Đại đức Trung Từ thỉnh thoảng được ai đó cho cà phê, nên cũng biết uống, lần này mới nếm một ít, đã tấm tắc khen:

– Cà phê gì mà ngon vậy sư huynh?

– Cà phê Mexico đó.

– Ở Buôn Mê Thuột có bán cà phê này không?

– Có nhưng mà giả.

– Thôi ghế dựa đây, nằm nghỉ. Huynh xuống bếp lo cơm trưa, cũng sắp đến bữa trưa rồi.

Suốt cả đêm không ngủ được, dẫn xe thêm hơn 2 cây số đã mệt nhoài, được uống tách cà phê ngon, Đại đức Trung Từ vừa mới ngả lưng trên ghế thì hai mắt đã hiu hiu vào giấc mộng lành lúc nào không biết. Thấy từ ngoài cửa một người thanh niên trạc tuổi như mình, áo quần tươm tất, để xách hành trang bên góc phòng khách, chắp tay chào:

– Thầy, thầy có nhớ con không?

– Sao thấy lạ lạ, mà cũng quen quen.

Người khách mỉm cười nói:

– Thưa thật với thầy, con là Chí Tài, Nguyễn Chí Tài, bạn học cùng trường với thầy năm xưa mà.

Đại đức Trung Từ đon đả:

– Từ ngày xa trường khá lâu, Chí Tài làm gì? Đã có gia đình chưa?

– Thưa thật với thầy, con vẫn còn độc thân. Cũng may nhờ phước tổ tiên, con có nghề nghiệp ổn định.

– Tài làm nghề gì?

– Không dối chi thầy, con được lên làm Tổng Giám  đốc.

– Giám đốc công ty gì?

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chuyên khai thác đất hiếm.

– Mừng cho Chí Tài.

Chí Tài đưa mắt quan sát phòng khách của chùa Phú Mỹ, thấy còn đơn sơ. Đến mở khóa vali, lấy ra xấp bạc loại 500 nghìn còn mới toanh, để trên bàn thưa:

Đã lâu lắm con mới về quê, nghe thầy được làm trụ trì chùa Phú Mỹ, con mừng lắm. Tuy nhiên thấy phòng khách của chùa còn quá đơn sơ, sẵn con có chút tịnh tài, xin cúng cho thầy, để thầy trang trí phòng khách thêm khang trang hơn.

Trung Từ cầm xấp bạc 50 triệu, lòng khấp khởi vô hạn, vì suốt đời mình chưa thấy ai cúng số tiền quá 3 triệu. Tay cầm số tiền lớn chưa kịp cất vào tủ thì nghe tiếng “bốp”. Đại đức trụ trì giật mình tỉnh thức, nhìn lên bàn thấy con mèo nhảy xuống đất bỏ trốn, đĩa để trái cây rớt xuống sàn nhà vỡ tan, hóa ra con mèo vừa nhảy lên bàn bắt thằn lằn làm đĩa trái cây rơi xuống. Thầy ngơ ngác nhìn chung quanh, không thấy người khách Chí Tài đâu, xấp tiền 50 triệu cũng không có.

Vừa khi đó, Thượng tọa Trung Diên từ dưới bếp nghe tiếng động nên đi vội lên, con mèo chạy đâu mất, đĩa trái cây đổ xuống nền nhà vỡ từng mảnh. Thượng tọa thấy sư đệ ngơ ngơ ngác ngác tay đưa vào túi như tìm kiếm thứ gì. Vị sư huynh nhìn thấy sư đệ của mình có vẻ không bình thường, như vừa từ trong giấc mơ bừng tỉnh, và cố lục lạo tìm kiếm một thứ gì đó đã mất. Thượng tọa thương tình thốt câu kệ:

“Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điển

Ưng tác như thị quán”.

Đại đức Trung Từ đến đây như xả mộng thiền, hỏi:

– Sư huynh nói kệ gì, ở trong sách nào, ý nghĩa ra sao, xin giải thích rõ cho em được hiểu.

Sư huynh thương tình:

– Bài kệ này ở trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

Đại đức Trung Từ vừa gãi đầu vừa rờ trán:

– Phiền anh giải rõ thêm cho em hiểu với.

– Này đệ, kệ tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa vô cùng thâm thúy, khó mà thấu đạt được. Đây em nghe kỹ. “Nhất thiết hữu vi pháp”, nghĩa là tất cả pháp hữu vi, trong đạo Phật thường nói đến hai pháp là pháp hữu vi và pháp vô vi, các đạo khác chỉ nói đến pháp hữu vi (pháp có), không biết đến từ vô vi. Chỉ có Đạo Lão mới rờ tới biên giới vô vi, chứ chưa vào được bên trong cái vô vi. Pháp hữu vi nói rõ là đất đai, sông biển, cây cối, thực vật, thảo mộc, động vật, con người. Tất cả những gì có hình tướng lớn nhỏ, tốt xấu, có thể rờ nắm được. Đại diện cho pháp hữu vi là con người chúng ta, vóc dáng to nhỏ, nặng nhẹ, đẹp xấu, ưa ghét. Tất cả những pháp hữu vi này đều là “mộng, huyễn, bào, ảnh”, như sương mai, như ánh chớp, như giấc mộng thì đâu có thật. Giống như đệ vừa mới bước ra khỏi giấc mộng, còn đó rồi mất đó, “trong mộng thấy có, nhưng bừng con mắt dậy thấy mình tay không”. Huyễn thì sao? Chúng ta cũng nên phân biệt giữa ảo thuật và huyễn. Ảo thuật cần phải có con người và vật liệu (chất liệu) mới làm được. Ví dụ như một người cầm chiếc khăn, giả vờ đưa ra trước người xem, rõ ràng đó chỉ là chiếc khăn không có gì. Người ấy cuốn tròn khăn lại, xếp nhỏ, bỏ vào hộp giấy, vỗ vỗ ít cái, nghiêng nghiêng dòm dòm, rồi đưa tay vào hộp giấy, bắt một con chim thả ra, chim bay đậu trên cây sào. Còn huyễn đạt đến trình độ cực cao, tinh vi vô cùng. Có thể nói, huyễn là từ không biến thành có, từ nhỏ biến thành lớn, có thể biến nữ thành nam rồi hoàn lại như cũ. Chinh phụ ngâm có câu: “Sơn hà cũng huyễn, côn trùng cũng hư”.

Trong kinh có dẫn câu chuyện:

Trong pháp hội Kỳ Viên có đông đủ hàng xuất gia và tại gia. Đức Thế Tôn nói về cái hại của dục: dục nhờ trụ trong cơ thể và được nuôi dưỡng bởi vật ăn thức uống, nó tồn tại với máu mủ đờm giải, phẩn tiểu dịch nhờn hôi tanh bất tịnh, đáng chán. Trong pháp hội, cư sĩ Tuyển Trạch được ngồi cạnh Tỳ-kheo Bạc Nan Đà, cư sĩ vội đứng lên thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đừng nói thế, như vợ con mới cưới về, tốt đẹp sạch sẽ thơm tho, không chỗ nào chê được.”

Thế Tôn suy nghĩ cư sĩ từng có tâm tin Tam bảo, nhưng ái dục còn nặng, ta phải tìm cách đưa cư sĩ này  trở lại và vững bước trên con đường đạo, xa lìa dục nhiễm. Ngay lúc đó có một người con gái từ cửa bước vào, đến ngồi ngay bên cạnh cư sĩ. Cư sĩ Tuyển Trạch biết đó là vợ mới cưới của mình, cư sĩ hỏi: “Em vào đây có việc gì?”  Người vợ nói: “Em vào nghe pháp.”

Cư sĩ kéo dài vạt áo của mình ra để vợ ngồi lên đó. Đức Thế Tôn tiếp tục giảng pháp. Tỳ-kheo Bạc Nan Đà ngồi cạnh cư sĩ bỗng nghe mùi hôi, bịt mũi, ngồi tránh xa. Cư sĩ thấy khó chịu, xấu hổ đẩy người vợ ra khỏi cửa. Khi nghe pháp xong, cư sĩ trở về với lòng bực bội, về đến nhà, người vợ ra đón, chào hỏi niềm nở. Cư sĩ với giọng hằn học nói: “Em đến đạo tràng nghe pháp, sao lại không nín được mà xả xấu ngay tại chỗ ngồi vậy?” Người vợ vô cùng ngạc nhiên nói: “Anh ơi, từ ngày anh cưới em về đây, em chưa bao giờ bước chân ra khỏi cổng, có đâu mà đi nghe pháp.” Cư sĩ sực tỉnh thốt lên: “Thân này của ta là huyễn, vợ ta cũng huyễn, Thế Tôn cũng huyễn thôi sao?”

Biết cuộc đời là huyễn mộng, cư sĩ Tuyển Trạch rời bỏ gia đình, xuất gia, và chẳng bao lâu chứng được quả vị.

Thượng toạ Trung Diên mỉm cười nói:

– Huyễn là vậy đó.

Đại đức trụ trì chùa Phú Mỹ muốn rõ thêm nên hỏi:

– Còn “như bào ảnh, như lộ diệc như điển” là sao? Phải nêu ví dụ đầy đủ để đệ hiểu rõ hơn.

– Các pháp được ví như bong bóng nước, như chiếc bóng trong gương, như bóng trăng dưới nước, như tiếng vang trong hang núi, như sóng nước trên đường láng (nhựa) giữa lúc trời nắng, thấy hiện có như thật nhưng không nắm bắt được. Còn “như lộ diệc như điển” nghĩa là giống như sương mai đậu trên đầu lá ngọn cây, như tia chớp thoáng qua rồi biến mất, chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian quá ngắn ngủi. Tất cả là như vậy đó, em hiểu chớ?

– Thật đúng huyễn là như vậy.

– Sư đệ có thể tu pháp môn này được không?

– Khó quá sư huynh ơi.

– Nếu muốn đơn giản gọn gàng, không bỏ nhiều công sức thì tu pháp môn này: “nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.”

– Xin sư huynh giải thích rõ, em hiểu mới tu được.

– Bài kệ trên nghĩa như thế này: nếu ta dùng mắt để quán sát thấy Phật (Như Lai) có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trang nghiêm rực rỡ, hoặc chúng ta dùng tai để nghe pháp nọ kinh kia, cũng giống như người thực hành tà pháp, đâu có thể thấy Phật được. Thế nào sư đệ? Có thể không cần nhọc tai mỏi mắt tu pháp này được không?

– Thôi sư huynh, pháp này lại càng khó hơn. Này sư huynh, em thấy nơi bức tường chùa Cảnh Long, thầy Trung Phúc kiếm đâu hoặc ai cho bốn năm tượng phỗng đất nung giống như mấy ông thầy chùa con ngồi bờ thành: kẻ thì dùng tay che mắt, người thì bịt tai, ông thì bịt miệng, là sao vậy sư huynh? 

Thượng tọa cười to.

– Đời đạo cũng lắm chuyện. Bịt tai bịt miệng là thế này, thế gian lắm chuyện tầm phào, chửi bới, mắng nhiếc, cãi vã, nói xấu, thề thốt, bới móc, khen chê, nịnh hót, người biết đạo hơi đâu mà tham dự vào ngôn từ của thế gian, để tạm được an định.

– Mắt là để nhìn, sao lại phải che?

– Đôi mắt lại cũng lắm chuyện, thích xem sắc đẹp khiến tâm đắm nhiễm, không thích những hình tướng xấu xí thô kệch, cao thì chê ngõng, thấp thì chê lùn, béo chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn lòi ra, làm sao giữ được tâm bình đẳng, không phân biệt tốt xấu mới phải. Hình vóc bên ngoài cũng chỉ là giả tướng. Thôi như người mù không thấy thì không còn phân biệt đó đây.

Trung Từ thấy cũng tạm ổn, nhưng còn phân vân về cái miệng.

– Miệng để ăn uống, phải ăn no mới sống, sao cũng phải che lại?

Thượng tọa bình phẩm:

– Miệng đâu phải chỉ có một việc là ăn với uống, miệng còn làm việc khác, mà việc này lại rất quan trọng, đó điều khiển chiếc lưỡi cho ra những lời nói. Nếu làm thinh không nói thì không truyền đạt được gì cho những người chung quanh hiểu về mình và người, nhưng nếu nói thì dễ rơi vào trường hợp “lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo”, nói đúng nói quấy cũng được, chân ngụy lẫn lộn, ác khẩu lưỡng thiệt, vọng ngôn, ỷ ngữ, li gián cũng từ lưỡi mà đến. Người nói đúng như pháp thì ít, người nói bông đùa giỡn cợt([2])thì nhiều.

Đến đây, Đại đức Trung Từ chợt nghĩ đến tượng Phật Di Lặc thờ ở các chùa. Tượng có bụng to mập mạp, miệng lúc nào cũng cười; có 5 đứa bé đeo trên mình: đứa rờ má, móc tai, đứa vuốt mắt thọc miệng, Đại đức hỏi:

– Như vậy là sao vậy hở Thượng tọa?

Thượng tọa sư huynh gật đầu đắc ý:

– Đó là vị Phật tương lai mà chúng ta thường gọi là Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Trong Kinh Pháp Hoa gọi là Bồ-tát Cầu Danh. Các chùa hành lễ đản sanh Bồ-tát Di Lặc vào ngày mùng một tháng Giêng mỗi năm. Đeo trên mình Bồ-tát có 5 đứa bé kháu khỉnh; còn một đứa nữa quậy nước phá trời lúc nào cũng trốn trong….

– Trốn ở đâu thưa Thượng tọa?

– Đứa bé quậy phá đó đang trốn trong bụng. Sáu đứa bé này mang tên lục tặc, nghĩa là kẻ quấy phá trộm cướp, chẳng hạn như: đạo tặc, chận đường cướp của; hải tặc, cũng gọi là hải khấu, giặc cướp biển; lâm tặc,kẻ phá rừng; không tặc, cướp trên không; đinh tặc là người mà Đại đức đã gặp sáng nay. Sáu tên tặc này có biệt danh là: nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỷ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (thân thể), ý (ý thức). Năm thằng bên ngoài nên hay hư cũng do thằng bên trong (ý) sai khiến. Cũng may nhờ Phật Di Lặc hoan hỉ – lại có tên Từ Thị Bồ Tát – A-dật-đa Bồ-tát hoan hỉ xả bỏ: tội nặng chuyển thành nhẹ, xấu đổi thành tốt, chúng sinh cũng nhẹ bớt gánh nặng tội lỗi.

Ngừng một lát, Thượng tọa nói tiếp:

– Bồ-tát Di Lặc phải mất một thời gian rất lâu dài nữa mới thọ sinh đến thế giới loài người. Còn Bồ-tát Di Lặc hiện tại nếu chỉ ngồi trên bệ xi măng hay bệ gỗ trong các chùa, cười toe toe với 6 đứa nhỏ thật công quả quá ít. Tôi muốn động viên Trung Từ cùng vài ba gia đình Phật Tử làm việc từ thiện không nhọc không tốn bao nhiêu: làm những gói quà nho nhỏ đi phát nơi đường phố, hoặc tại các chùa để kết duyên với các em nhỏ. Người Thiên Chúa giáo làm được việc này, sao ta không làm được?

Ông già Noel là vị thánh tưởng tượng, phát xuất từ nước Pháp từ lâu xa. Vị thánh này người Anh gọi là Saint Close (hay Santa Claus) nghĩa là Thánh Khép Kín. Ông già Noel cho quà cũng rất đặc biệt. Trước lễ Giáng sinh, cha mẹ đứa bé mua cho con mình một phần quà, trong đó có bánh kẹo đồ chơi và phải kèm thêm một đôi tất (vì châu Âu xứ lạnh), gói quà để dưới chân giường, hoặc trên (đầu) giường, đứa con thức dậy thấy có phần quà, nên hỏi cha mẹ:

“Ai tặng quà cho con thế Ba Mẹ?”

“Ông già Noel cho con đấy”.

“Nhà mình ban đêm đóng kín cửa, làm sao ông già Noel có thể vào được?”

“Ông già Noel vào nhà từ ống khói lò sưởi đó con”

Đứa bé vui mừng cảm ơn ông già Noel. Từ đó, ngày Chúa giáng sinh không thể vắng bóng vị Thánh này. Do đó, đạo Thiên Chúa ngày càng phát triển cũng nhờ ông già Noel. Tại sao đạo Phật chúng ta không phát huy hình ảnh hoan hỉ cởi mở với nụ cười không lúc nào dứt qua hình tượng Bồ-tát Từ Thị Di Lặc?

Thấy thời gian còn dài, Đại đức Trung Từ thưa với sư huynh chùa Phước Xuân:

– Em nghe nói Học viện Phật giáo sắp mở khóa đạo tạo giảng sư Phú-lâu-na, em muốn vào đó để học, trước là nhờ ngày hai bữa cơm đầy đủ, sau thêm kiến thức Phật pháp, ý em như thế, sư huynh thấy thế nào?

Thượng tọa Trung Diên với nụ cười cởi mở bảo:

– “Giàu to”, nhưng “lâu lắm” và “cực nhọc” vô cùng.

Đại đức sư đệ hỏi:

– Thưa sư huynh, sao lại “giàu to”?

– Em không hiểu sao, “Phú”[3] nếu không giàu chẳng lẽ là nghèo?

– Còn “lâu lắm” là sao?

– “Lâu” vì không lẽ là nhanh, không biết bao nhiêu năm mới ra trường.

– Còn sao lại “cực nhọc”?

– Chính chữ “Na” mới là cực nhọc.

– Anh nói em chưa hiểu.

– Anh thí dụ thế này để em thấy rõ hơn.

Gia đình nọ, cha mẹ đi làm hết, hai đứa con không biết làm gì, chị em rủ nhau ra vườn bày trò chơi. Hai chị em bắt chước thầy cúng, hái bông táo nhơn làm hoa cúng, bẻ trái vú dẻ làm trái cây cúng, lượm lá bàn gói bánh nậm, nhặt trái gạo khô (trái trôm) làm mõ, lấy chiếc lon đong gạo trong nhà làm chuông, kê mấy viên gạch làm bàn cúng, đứa 12 tuổi ốm yếu, chỉ nặng khoảng 9kg, đứa 8 tuổi mập, nặng đến 13kg. Em ngồi bệt đằng sau, chị quỳ phía trước. Chị nói: “Hôm nay chị em mình cúng giỗ, mời Ông Bà Nội về ăn.” Thế là chị tay cầm chuông tay cầm mõ, đọc: “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật cùng 10 phương các vị Phật Bồ-tát trên trời về đây chứng giám đám giỗ cho chúng con. Nam Mô biến thực biến thủy tát pha tô rô”; lúc này, ở phía sau, thằng em nhảy đong đỏng lên khóc thét. Do nó ngồi trúng ổ kiến lửa, chị nó phải khó nhọc mới na nó vào sân được, phủi kiến cho nó. Na nghĩa là vậy sư đệ ơi!

– Học môn nào sư huynh nói cũng khó, sư huynh không chỉ cho em môn tu học nào dễ hơn sao?

– Có tu Bồ-tát hạnh là dễ nhất, tu ít nhưng phước quả lại nhiều.

– Thế nào là tu Bồ-tát hạnh?

– Là tu lục độ: 1 là bố thí, 2 là trì giới, 3 là nhẫn nhục, 4 là tinh tấn, 5 là thiền định, 6 là trí tuệ. Nói chung pháp nào cũng khó, nhưng lần lần cải thiện, riêng bố thí là pháp đứng đầu.

– Sư huynh ơi, em nay chạy vạy hết sức không đủ tiền để lo việc nhang khói cho chùa thì tiền đâu làm việc từ thiện?

Thượng tọa chùa Phước Xuân mỉm cười:

 – Có nhiều cách bố thí chứ đâu chỉ có một cách làm từ thiện: nào là tài thí, pháp thí, vô úy thí.

– Sư huynh giải thích cho em rõ ba cách bố thí này.

– Tài thí thì em không có tiền bạc, hẳn khó làm việc này. Pháp thí thì chưa được đào tạo lớp giảng sư Phú-lâu-na. Vậy thì em thực hành hạnh vô úy thí, không khó đâu.

– Vô úy thí là gì, hả anh?

– Biết thương mọi loài chúng sinh, không lúc nào xa rời, như trâu mẹ luôn luôn đi sát trâu con, giữ gìn con,không rời, không buông bỏ; luôn vỗ về an ủi khi chúng sinh gặp việc lo lắng bất an, sợ sệt. Chẳng hạn như cuộc sống ngắn ngủi, chết đi về đâu, về hư vô sao, thần hồn còn tồn tại hay mất hẳn. Điều này mọi chúng sinh đều lo sợ. Em nên tu thêm pháp môn này mới có cơ hội gần gũi tín đồ để khuyên bảo nhắc nhở họ, khuyên họ phải biết quy y Tam bảo, giữ gìn những điều ngăn cấm thiết yếu như không giết hại chúng sinh, không ác khẩu, không dối trá lường gạt, không làm cho vợ chồng người khác mất hạnh phúc. Như thế, khi lìa bỏ xác phàm này, thần hồn mới không rơi vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu người khi còn mạnh khỏe hoặc lúc bệnh tật đeo đuổi thì chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, tâm thức lúc nào cũng hướng về Tây phương Cực lạc. Hoa sen sẽ là cha mẹ, từ đó không còn luân hồi, sinh tử, kinh chép chuyện thế này: “Đứa bé tên Sa-di-la sớm theo làm đệ tử của vị sư già chuyên tu khổ hạnh. Một hôm nọ, Sa-di-la chợt thấy trong khoảng thời gian không quá 30 năm, mình chỉ có một thần hồn mà làm con của 5 bà mẹ. Bà mẹ thứ nhất sinh con ra, khi chưa được 1 tuổi thì đứa con mất. Mẹ quá thương con, đến mỗi bữa ăn, bà bới thêm một chén, đặt chiếc muỗng vào chén cơm, sụt sùi khóc kể, mời con ăn cơm. Sau đó, người đàn bà cùng xóm cũng sinh một đứa con, chưa được 2 tuổi đứa bé đã biết đi, nhưng cũng chết sớm. Sau đó, bà hàng xóm khác sinh được đứa con mũm mĩm dễ thương. Khi đứa bé biết chơi giỡn, người mẹ trước nhìn thấy liền tủi thân, nếu con ta còn sống nó cũng chạy nhảy chơi đùa lăng xăng như đứa con của người ta vậy. Khi hồi tưởng đến đứa con mình, bà khóc lóc thương nhớ. Thằng bé mạng ngắn, cũng chết khi còn nhỏ. Thế rồi, một bà hàng xóm khác sinh được đứa con trai, cha mẹ cho đi học, lớn lên cưới vợ cho con rất linh đình. Bà mẹ trước thấy người ta làm đám cưới cho con linh đình như thế, bà tủi thân nói: nếu con tôi còn sống và lớn như thế, tôi sẽ làm đám cưới cho nó còn linh đình hơn như vậy nhiều. Sau đám cưới không bao lâu, người con bệnh chết. Bà mẹ thứ 5 sinh con đặt tên là Sa-di-la, vừa lên 9 tuổi, Sa-di-la bỏ nhà theo vị sư già chuyên tu khổ hạnh. Người mẹ thương nhớ con, tìm kiếm mãi mà không gặp, đau đớn khóc kể: hiện giờ con ở đâu, có cơm ăn áo mặc hay không, nóng lạnh thế nào, còn sống hay đã chết. Nghĩ đến con, bà thương nhớ buồn khóc thảm thiết. Trong khi đó cậu bé Sa-di-la ngồi cạnh thầy mình, và thấy mình chỉ có một thần hồn mà làm con tới 5 người mẹ, người mẹ nào cũng than khóc thảm thiết nên bật cười lớn. Thầy ngồi bên cạnh giật mình hỏi: “Con cười ai vậy? Cười thầy phải không?” Sa-di-la thưa với thầy: “Dạ, con đâu dám cười thầy, con thấy con chỉ có một thần hồn mà làm con đến 5 người mẹ, người mẹ nào cũng khóc lóc thương nhớ con, nghĩ vậy con cười lớn”.

Đại đức Trung Từ thưa:

– Thưa Thượng tọa! Em phải học những gì để có thể tiếp cận được đạo hữu và kể cả những người không phải là đạo hữu, để kết duyên Phật pháp với họ bằng pháp vô úy thí?

Thượng tọa Trung Diên tươi cười bảo:

– Này sư đệ, anh thấy chùa Bình Long ở huyện Phú Hòa mới nuôi một chú tiểu, khi đi đám thường dẫn theo để sắp đặt bàn ghế, án thờ, chú trang trí đâu ra đó. Khi thầy hành lễ, lúc đầu chú điệu chỉ mới biết đốt hương, dâng hương cho thầy niệm, sau nhiều lần tập cầm nhịp, ba năm sau chú đã sành điệu nhịp tang, có thể làm chúng các đàn chẩn tế. Em nên vào đó để thọ giáo ít hôm.

Mấy hôm sau, Đại đức hành trang trên xe gắn máy của mình, tìm đến chùa Bình Long để học nghi thức cúng tế cho thành thạo hơn. Khi đến chùa, thầy trò Bình Long đi vắng, hỏi rõ ra mới biết thầy trò đi cúng thất thứ 3 ở nhà ông Lợi Mỹ.

Đoạn này nói về việc Thượng tọa Bình Long cúng thất ở nhà ông Lợi Mỹ, khi vừa cúng xong thất thứ 2, gia chủ đến thỉnh Thượng tọa cúng thất thứ 3 cho kỹ hơn.

Thượng tọa hỏi:

– Sao gọi là cúng kỹ?

Tín chủ thưa:

– Con nghe nói phải cúng Khải phù sứ mới kỹ. Thưa Thượng tọa, từ ngày má thằng Tý mất mẹ, má nó trót dại không suy nghĩ kỹ, uống thuốc quá liều không cứu được. Thằng Tý là con trai duy nhất của con, được má thương chiều, cứ khóc mãi đòi mẹ. Con không biết vỗ về làm sao cho nó bớt buồn, con chỉ biết bảo: mẹ đi thăm ngoại ít hôm rồi mẹ sẽ về. Đứa con khóc: “Những lần trước, sáng mẹ đi, chiều mẹ về, lần này mẹ đã đi mấy ngày rồi, sao chưa thấy mẹ về.” Xin thầy hoan hỉ giúp con thiết lễ Khải phù sứ để mẹ con thằng Tý được gặp nhau lần cuối.

Thượng tọa Nguyên Hoa chùa Bình Long nghĩ hoàn cảnh gia đình heo hút, con còn nhỏ dại, không nỡ chối từ.

– Tôi phải thỉnh đúng 5 thầy với 5 món lễ, rước 5 vị sứ giả, để sứ giả mời vong về dự.

– Thưa Thượng tọa, 5 thầy con có thể nhờ bà con thân thuộc hàng xóm hỗ trợ; còn 5 phẩm vật là những thứ gì?

– Nếu tôi không nói rõ cho đạo hữu thì có lẽ đạo hữu không biết sắm món nào. Thế này: thứ nhất là gói thuốc lá với hộp quẹt gas. Thứ hai là kem và bàn chải đánh răng. Thứ ba là khăn lau mặt. Thứ tư  là 20.000đ. Thứ năm thì tùy đạo hữu lựa chọn.

– Dạ, con không biết lựa chọn thứ gì cho đúng.

– Thì có thể như thế này: đêm đêm các thầy thường xem TV, xem đến quá nửa đêm, ngủ quên, bỏ cả thỉnh chuông sáng. Bà con hàng xóm thường phàn nàn, hay là đạo hữu sắm cho mỗi thầy một chiếc đồng hồ báo thức, hẳn là các thầy không có lý do gì nói là bị ngủ quên, không công phu sáng được.

Đạo hữu nghe rất hợp lý, về nhà sắm đủ năm món lễ phẩm. Mới 7 giờ sáng, đạo hữu đã đến chùa rước thầy. Thượng tọa Bình Long bảo:

– Đạo hữu về nhà trước đi, sắp đặt bàn ghế, thầy chờ 5 thầy đến đông đủ rồi đi luôn, không cần phải chờ đợi.

Khoảng 7g30, các thầy đến nhà đông đủ, sau khi dùng cháo điểm tâm, quý thầy nhập đạo tràng khai kinh thỉnh Phật, rồi quay ra ngoài làm theo thứ tự, mỗi thầy ngồi một ghế tán ít bài, thầy cả phục dĩ: Dương dương hồ thương…. tam giới nguy nguy…. ngưỡng đạt kim liên…

Nhờ Đức Địa Tạng thương xót mọi chúng sinh nơi địa ngục phải chịu lửa đốt, đâm chém tra kẹp, đau đớn không thể kể xiết, để cho vong linh tạm thời rời khỏi hình phạt nghiệt ngã, nhờ lòng từ của thập Điện Minh vương, vong linh thoát kiếp ngạ quỷ, được trở lên nhân gian, nghe kinh tư duy pháp Phật nhiệm màu. Liền khi đó thằng bé giật mình, nó nhìn thấy mẹ mình đang ẩn ẩn hiện hiện sau bức thờ nơi bàn linh. Thằng bé chạy lại vừa mừng mừng tủi tủi:

– Mẹ về ngoại sao lâu vậy?

Thằng bé tính nắm tay mẹ nhưng người mẹ đã biến mất. Năm thầy khi cùng nhìn thấy hành động khác lạ của thằng bé thì đều sửng sốt, nhưng vài giây sau, các thầy hiểu được nguyên nhân tại sao đứa bé lại có hành động khác lạ như vậy. Khi hành lễ xong, các thầy dùng cơm chay, thu dọn hành trang đem về nhà.

Thượng tọa Bình Long vừa về đến chùa thì có khách Tăng ngồi chờ. Thượng tọa nhanh miệng:

– Thầy ở đâu? Thầy đến chùa có việc gì? Thầy đã dùng cơm chưa?

Đại đức Trung Từ cảm thấy bụng trống trơn, nói giọng run run:

– Dạ, con từ chùa Phú Mỹ ở Trung Trinh, đường xa, bụng trống trơn, đã có ăn gì đâu.

Thượng tọa gọi bà công quả bưng đĩa bánh xèo khi sáng chưa kịp ăn, dọn lên.

Vừa đói bụng, bánh xèo ngon, nước chấm cũng ngon, Đại đức dùng một hồi hết 10 cái bánh. Ăn xong, Thượng tọa nói:

– Mời thầy nằm ghế bố nghỉ ngơi một lát, xế sẽ nói chuyện sau.

Đến xế, Thượng tọa Bình Long thức dậy mời trà, hỏi:

– Thầy đến đây gặp tôi có việc gì?

– Dạ, con muốn học nghi lễ.

– Thầy thường đi cúng với ai? Tay đẩu đã rành chưa?

– Dạ, con chỉ biết đánh mõ tụng kinh, người ta bảo con đánh sao cho ra điệu: “con kiến càng cắn tao đau lắm”.

Thượng tọa cười:

– Chỉ cần học 3 ngày có thể rành.

Sau 3 ngày, Đại đức Trung Từ thấy kha khá. Khi về chùa, thầy vừa tập thêm vừa đi cúng, từ đó nhiều đạo hữu mời thầy đi cúng, được tạ ít tiền công, đủ chi phí việc chùa.

Về đến chùa nghỉ ngơi được 3 hôm, Đại đức Trung Từ có nhiều vấn đề muốn tìm hiểu, chợt nhớ đến Thượng tọa Quảng Đạo trụ trì chùa Phước Điền, người việc gì cũng biết, nên đến chùa Phước Điền yết kiến Thượng tọa, thưa:

– Thưa Thượng tọa, con thấy lá cờ quốc gia Đại Hàn có những vạch liền vạch đứt là sao? Lại trên đại hồng chung trong chùa cũng có những vạch như vậy là ý nghĩa gì?

Thượng tọa Quảng Đạo mỉm cười gật đầu bảo:

– Việc này phải có lai lịch từ lâu xa: vua Phục Hi là một trong 3 vị vua Trung Hoa từ mới khởi thủy. Đó là Phục Hi, Thần Nông, Huỳnh Đế. Vua Phục Hi lập ra Hà đồ Lạc thư. Từ khi có trời đất chỉ có một thể là thái cực. Từ thái cực sinh ra Lưỡng Nghi, tức là âm dương. Từ Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, tức là Thái Dương, Thiếu Dương – Thái Âm, Thiếu Âm. Sau mới có Ngũ Hành tức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Có đầy đủ các yếu tố này, vua Phục Hi mới lập thành Tiên thiên Bát quái, đó là: 1. Kiền (Càn) là trời, ký hiệu 3 vạch liền (☰). 2. Đoài, là trạch, tức đầm lầy, ký hiệu 1 vạch đứt, hai vạch liền dưới (☱). 3. Ly, là hỏa, lửa, ký hiệu hai vạch liền trên dưới, vạch đứt nằm giữa (☲). 4. Chấn, là sấm, ký hiệu hai vạch đứt phía trên, một vạch liền dưới chân (☳). 5. Tốn, là phong, tức gió, ký hiệu là hai vạch liền phía trên, vạch đứt dưới chân (☴). 6. Khảm, là thủy, tức nước, ký hiệu vạch đứt trên dưới, vạch liền ở giữa (☵). 7. Cấn, là sơn tức núi, kýí hiệu vạch liền phía trên, hai vạch đứt dưới chân (☶). 8. Khôn, là địa, tức đất, ký hiệu là 3 vạch đứt (☷). Đó gọi là Tiên thiên Bát quái. Đến đời nhà Tây Chu, trong thời gian 7 năm bị giam cầm trong thành Dũ Lý, Chu Văn vương thành lập phương vị là Hậu Thiên Bát Quái: 1. Càn. 2. Khảm. 3. Cấn. 4. Chấn. 5. Tốn. 6. Ly. 7. Khôn. 8. Đoài.

Đến đời Đông Chu, Đức Khổng Tử san định lại, giải thích chi tiết hơn và ghép chung tám quái này với một quái khác thành quái kép, gọi là Quẻ; gồm có sáu mươi bốn quẻ, mỗi quẻ được giải thích ý nghĩa rõ ràng, nhưng lời cũng cô đọng lắm. Ví dụ, quẻ thứ mười hai ghép Quái Kiền (trời – thiên) với Quái Khôn (địa – đất) gọi là Thiên Địa Bỉ: Kiền Thiên ☰ (3 vạch liền), Khôn Địa ☷ (3 vạch đứt). Như vậy mới rõ được ý nghĩa vạch liền, vạch đứt.

Bây giờ nói ý nghĩa của cờ quốc gia Hàn Quốc: cờ Hàn Quốc chỉ có 4 quái bao lấy lõi âm dương – trong âm có dương, trong dương có âm. Âm thịnh dương suy, không vượt qua luật âm dương được. Bốn quái đó là Kiền (Càn, ☰ ), nghĩa là trời. Trời là bao che, đỡ lấy đất nước. Khôn (☷) là chở, là nâng đỡ, là điểm tựa. Mọi sinh vật thực vật tồn tại và phát triển được cũng nhờ từ đất. Khảm (☵) là thủy là nuôi dưỡng, nếu không có nước thì mọi sự sống trên thế gian không thể tồn tại được. Ly (☲) là hỏa, lửa, nếu không có hơi ấm thì sự sống trên trái đất cũng không thể tồn tại, không có lửa thì cũng không có công nghiệp. Ai thông hiểu được bát quái 64 quẻ thì có thể thông hiểu được vận mệnh của mình, không phải tốn tiền đến các thầy địa thầy bói.

– Thưa Thượng tọa, còn Đại Hồng Chung ở các chùa cũng có bát quái này, nghĩa là như thế nào?

– Trong các chùa, trên Đại Hồng Chung, không chỉ khắc nổi bát quái này mà còn đắp nổi 4 mặt trăng ghi Xuân, Hạ, Thu, Đông; để khi chuyển mùa, chuông lại được xoay về một hướng khác, và thỉnh chuông trên một mặt trăng được ghi chữ tương ứng cho từng mùa, giúp chuông luôn được cân bình.                           

– Thưa Thượng tọa con muốn biết rõ thêm ý nghĩa của “y bát chơn truyền”.

– Nếu Thượng tọa Minh Liên thường ra Sông Cầu  thăm viếng cụ thân, Đại đức có thể tham vấn với Thượng tọa.

– Nhưng con nghe đồn Thượng tọa việc gì cũng rành, mong Thượng tọa giải thích điều nghi vấn này của con.

– Nghi vấn như thế nào?

– Chẳng hạn như vị sư nuôi 5 người đệ tử, cho tu học, pháp lạc đầy đủ, giả dụ như vị thầy muốn thực hiện ý nghĩa của y bát chơn truyền thì truyền trao như thế nào? Trao cho vị đệ tử thứ nhất, còn 4 vị đệ tử còn lại không trao sao? Trong trường hợp này, phải giải quyết như thế nào?

– Khó lắm đó.

– Lại có một điều con muốn thưa với Thượng tọa: tại sao ở các chùa khác, bánh xe pháp luân chỉ có 8 căm, trong khi đó, bánh xe pháp luân ở chùa Triều Tôn có đến 12 căm là sao?

– Pháp luân có 8 căm là tượng trưng cho Bát Chánh Đạo: 1. Chánh tri kiến. 2. Chánh tư duy. 3. Chánh ngữ.4. Chánh nghiệp. 5. Chánh mạng. 6. Chánh tinh tấn. 7. Chánh niệm. 8. Chánh định. Còn pháp luân có mười hai căm là tượng trưng cho mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên là gì? Là: 1. Vô minh. 2. Hành. 3. Thức. 4. Danh sắc. 5. Lục nhập. 6. Xúc. 7. Thọ. 8. Ái. 9. Thủ. 10. Hữu. 11. Sanh. 12. Lão tử ưu bi khổ não. Mười Hai Nhân Duyên vô cùng thâm thúy, khó hiểu, khó diệt trừ.

Thời Phật còn tại thế, vua Ba Tư Nặc thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, trong tịnh xá Kỳ Viên, nên cho vẽ những hình ảnh gì để trợ lực cho việc tiến tu của các vị Tỳ-kheo?” Phật bảo vẽ như thế này: “hai bên cửa sổ vẽ hình Dược Xoa cầm trượng, trong phòng ăn vẽ các loài ngạ quỷ cầm bát, phòng ở thì vẽ những bộ xương trắng, cổng tịnh xá thì vẽ hình pháp luân mười hai căm.” Một hôm nọ, trời mới vừa sáng, một Tỳ-kheo ra mở cổng thì thấy có một giáo sĩ ngoại đạo đứng nhìn mãi vào vòng luân hồi mà không hiểu gì cả. Vòng luân hồi nói lên ý nghĩa sanh sanh tử tử bất tận không lúc nào chấm dứt.

Trong vòng tròn mười hai nhân duyên khởi đầu là Vô minh. Vô minh là gì? Nó cực kỳ hệ trọng đối với một hữu tình chúng sinh. Khi đã lọt vào vòng Vô minh thì hầu hết không thoát khỏi sinh tử luân hồi bất tận cho đến già bệnh chết chịu vô vàn ưu bi khổ não, cũng như con cá đã lọt vào cái toi của người chài lưới, lúc này chỉ còn chờ nằm trên thớt, bị chặt chém mổ xẻ chiên đốt nấu xào làm thức ăn cho người thế gian. Cũng thế, khi một chúng sinh lìa trần, thân xác dần hủy hoại, chỉ còn một thần thức tồn tại gọi là thân trung hữu hay là thân trung ấm. Hình sắc trung ấm có hai loại: một là hình sắc xinh đẹp, hai là dung mạo xấu xí.

Trung hữu địa ngục dung mạo xấu xí như thân cây bị cháy nám. Trung hữu bàng sinh có sắc như khói. Trung hữu ngạ quỷ có sắc như nước. Trung hữu trời có màu hoàng kim. Tùy theo nghiệp đã tạo mà hữu tình sẽ thọ sinh vào đâu. Trung hữu cảm ứng theo hình trạng ấy. Nếu trung hữu cõi trời thì đầu hướng lên. Trung hữu bàng sinh và ngạ quỷ thì nằm ngang mà đi. Trung hữu địa ngục thì đầu ngược xuống. Các trung hữu đều có thần thông, nương hư không mà đi, có thể nhìn thấy nơi mình thọ sinh như có thiên nhãn. Trung hữu sẽ vào thai mẹ như thế nào? Nếu bụng người mẹ ổn định, không có bệnh tật, thủy kỳ ổn định, thấy cha mẹ đang giao hợp, thân trung hữu liền sinh ra vọng tưởng sai lầm: tưởng lạnh lẽo, gió lớn, mưa to, mây mù, hoặc nghe tiếng nhiều người cãi nhau. Sau khi sinh tưởng này rồi, tùy theo nghiệp mạnh yếu phát sinh 10 tưởng hư vọng: 1. Ta đang vào nhà. 2. Ta sắp lên lầu. 3. Ta lên đài điện. 4. Ta lên giường tòa. 5. Ta vào thảo am. 6. Ta vào nhà lá. 7. Ta vào vùng cỏ rậm. 8. Ta vào trong rừng cây. 9. Ta vào kẻ tường hở. 10. Ta vào giữa rào. Khi trung hữu có niệm này liền vào thai mẹ. Thời điểm vừa vào thai mẹ gọi là yết-la-lam, chính là tinh cha huyết mẹ, nhờ nhân duyên tinh cha huyết mẹ hòa hợp để thức dựa vào đó tồn tại. Thân yết-la-lam ngoài tinh cha huyết mẹ ra còn nương nhờ nhân duyên đại chủng hòa hợp (đại chủng là đất, nước, gió, lửa) mới có thể tồn tại và phát triển. Như hạt giống phải chắc, không bị lép, và được đem gieo xuống ruộng tốt, đủ độ ẩm, có đủ những điều kiện thuận lợi kết hợp, mới không bị nắng gió làm hư hoại, rồi nảy mầm, lần lượt phát triển thành cánh lá hoa trái. Như vậy nên biết, không phải chỉ có cha mẹ hay riêng các duyên khác mà có thai. Phải có tinh cha huyết mẹ và cùng hòa hợp các duyên khác mới thành thai. Bất tịnh của cha mẹ hợp thành yết-la-lam gọi là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức là danh. Nên gọi là danh sắc. Tụ uẩn các danh sắc đáng chán này phát sinh các hữu, cho đến trong giây phút nhỏ nhất ta cũng không tán thán nó. Vì sao? Vì đời sống trong các hữu thật là khổ, ví như phẩn uế, dù chút ít cũng hôi thối. Như vậy nên biết, đời sống trong các hữu dù nhỏ nhất cũng khổ. Năm thủ uẩn thọ tưởng hành thức này đều có sinh trụ tăng trưởng và hoại diệt. Sinh là khổ, trụ là bệnh, tăng trưởng và hoại diệt là già chết. Vậy nên đối với biển hữu, ai lại ưa thích mùi vị ái, nằm trong thai mẹ chịu đau khổ khốc liệt như vậy? Có người trí nào lại luyến ái với biển khổ này để bị lưu chuyển mãi không ngừng nghỉ…

Từ Vô minh (u mê) đến Hành (nghiệp lực) rồi đến Thức cũng mơ hồ và tối tăm. Danh sắc có hình tướng và tên gọi cũng là giả tạo. Lục nhập trong đó có nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức cũng bị đánh lừa. Xúc: lục căn tiếp xúc với lục trần cũng là vọng tác vô biên chi tội. Thọ là nhận chịu những buồn vui và khổ não. Ái thì đủ thứ: nam nữ thân thuộc, toàn là những sợi tơ chằng chịt buộc trói chúng sinh không bao giờ vượt thoát được. Thủ: đã ái thì phải nắm giữ. Hữu: đã có thì không thể không. Với những vòng luẩn quẩn đó thì phải tái sinh lại. Đã sinh thì phải già, rồi phải chết, ưu, bi, khổ não triền miên không chấm dứt được.

– Thưa Thượng tọa, từ nãy đến giờ, nghe Thượng tọa nói vòng luân hồi mười hai nhân duyên, đầu óc con như quay cuồng. Như vậy, tất cả mọi chúng sinh không ai thoát khỏi vòng sanh sanh tử tử này sao?

– Có chứ, ai kiên trì cắt đứt mắt xích Ái thì vượt qua được. Chặt đứt Ái thì không còn gì để lưu luyến; không đắm nhiễm chính bản thân mình, vợ con, thân quyến tài sản. Nếu Ái đã dứt thì còn gì để Thủ. Đã không Thủ giữ thì còn có gì nữa (Hữu). Người xuất gia đã không còn có cái gì riêng của mình (Hữu) thì nhẹ nhàng bước lên con đường giải thoát, an nhiên tự tại.

– Thưa Thượng tọa, chư Phật luôn khen ngợi người tu hạnh Bồ-tát, lại còn nói, Bồ-tát tu ít nhưng phước quả gần như vô biên là sao vậy?

– Đại đức ngẫm nghĩ thấu triệt câu “Tứ hoằng Thệ nguyện”, tức bốn lời nguyện giữ mãi không dứt, thì rõ:

Chúng sinh không số lượng, thệ nguyện đều độ khắp.

Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch.

Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học.

Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện đều viên thành.

Đại đức làm được bốn việc này: chúng sinh nhiều vô kể, không tính đếm được, thử hỏi Đại đức có thể độ khắp tất cả, không bỏ sót một ai? Phiền não nhiều cũng vô tận, Đại đức có thể diệt sạch hết tất cả được không? Pháp môn tu không thể tính đếm bao nhiêu, có thể tu học hết được không? Đạo Phật không gì cao hơn, đều thực hành trọn vẹn,  Đại đức có thể làm được điều đó không? Bốn Đại Hoằng Nguyện đầy đủ là vô tận tạng, là hạnh của Bồ-tát thì công đức phước báo phải nhiều hơn các hạnh tu khác.

Người tu hạnh Bồ-tát hay người tu hạnh Thinh Văn (A-la-hán quả) ai cũng phải vượt qua bên kia bờ giải thoát. Người tu hạnh Thinh Văn tự mình bám vào cành cây bè chuối cố vượt qua khỏi dòng sông mê qua bên bờ giải thoát. Người tu hạnh Bồ-tát, đóng chiếc ghe, chiếc bè vững vàng cùng chở nhiều người vượt sông vượt biển đến bờ an toàn thì phước đức công quả của Bồ-tát phải nhiều hơn các vị khác chỉ bám nhờ cành cây bè chuối đôi lúc cũng bị gặp nạn giữa dòng. Thế mới biết chư Phật luôn tán dương khen ngợi người tu hạnh Bồ-tát.

Tạng Kinh chư Phật tán thán hạnh tu của Bồ-tát là vô tận không thể nói hết được cho nên nói Vô Tận Tạng là như thế đó.

 

Chú thích:

[1] Chùa Phước Điền được khai sơn vào năm 1940, do ngài Trừng Tự, hiệu Vĩnh Châu, dòng Lâm Tế Liễu Quán đời thứ 42. Chùa tọa lạc tại thôn Hòa Mỹ, xã Xuân Cảnh, thị xã Sông Cầu. Diện tích đất chùa khoảng 10.000 m2. Chùa Phước Điền là một trong những ngôi chùa có cảnh quan tươi đẹp nhất thị xã Sông Cầu.

[2] Phật cấm hí luận, những lời nói không lợi mình lợi người, không truyền đạt được chơn pháp.

[3] “Phú” trong từ Phú-lâu-na.