ĐƯỜNG ĐI NHIỀU NGÕ
Viên Hạnh – Triều Tôn
Phần 7:
NGƯỜI BẠN PHẢN TRẮC
Mẹ tôi không biết chữ, Cha tôi thích đọc truyện Tàu, tôi hay ngồi nghe lỏm.
Thỉnh thoảng, có ai đó cho Cha tôi mượn một bộ truyện Tàu, do nhà in Tín Đức Thư Xã ở Sài Gòn xuất bản như Tam quốc diễn nghĩa, Thuyết đường, Tiết đinh sang chinh tây. Tôi thích nhất là chuyện Bàng Quyên – Tôn Tẫn, chuyện kể như thế này:
Vua Hiếu Công nhà Tần ỷ thế mạnh, sai quân qua nước Yên thôi thúc nạp cống lễ cho vua Tần. Yên chúa sai phò mã Tôn Tháo cùng hai con là Tôn Long và Tôn Hổ đem quân ra ải Đồng Quan ngăn cản quân Tần. Vì khinh địch, Yên thua trận, binh lính chết quá nhiều. Tôn Tháo về thú tội, bị tước hết quyền hành. Tối hôm đó, Tôn Tháo ngồi chống tay ủ rũ buồn rầu. Người con thứ ba là Tôn Tẫn đến vòng tay thưa với Cha:
– Việc nhà thì có Mẹ lo, việc nước thì có Cha và hai anh gánh vác. Không biết việc xuất trận thắng thua thế nào mà thấy Cha ngồi than thở buồn rầu quá lắm vậy.
Tôn Tháo thuật lại trận chiến, do thiếu đề phòng, nửa đêm quân Tần cướp trại, quân lính chết hết hai phần, vua Yên cắt hết quyền hành, chỉ còn giao việc tuần thành mà thôi.
Tôn Tẫn nghe thế buồn rầu thưa cha:
– Nước Yên ta với nhà Tần có mối thù này cần phải trả. Con nghe ở động Thủy Liêm núi Vân Mộng có thầy Quỷ Cốc thông hiểu binh thư đồ trận, con muốn đến đó để cầu học. Sau này Yên quốc của mình mới có cơ hội trả được mối hận này.
Mặc dù Tôn Tháo khuyên ngăn, người mẹ thương con bịn rịn không muốn con rời xa. Tôn Tẫn vẫn bền lòng.
Ngày hôm sau với hành trang trên vai, Tôn Tẫn lên đường, đi đến trưa thì mỏi mệt, dựa lưng bên gốc cây nghỉ mát.
Về phần nước Ngụy:
Quan thừa tướng nước Ngụy là Trịnh An Bình, trong lúc đi hầu Triệu trở về, đến khúc đường nọ, ngựa đạp phải mảng băng, quăng Trịnh An Bình suýt ngã nhào xuống đất. An Bình tức giận gọi dân hai bên đường ra đòi đánh phạt:
– Sao các người tạt nước lên đường? Trời lạnh, nước đóng băng, ngựa ta trượt chân, suýt ném ta xuống đất!
Dân làng kêu oan:
– Chúng con không có đổ nước ra đường, đây là do Bàng Hoành làm nghề thợ nhuộm, hàng ngày thường đổ nước ra đường, chúng con nói mãi nhưng ông ấy không chịu nghe. Quan có đánh phạt thì đánh ông ta, chúng con vô tội.
An Bình quát tháo:
– Bàng Hoành là tên nào?
Dân chỉ nhà anh thợ nhuộm, thế là Bàng Hoành bị một trận đòn nhừ tử. Con của ông thợ nhuộm là Bàng Quyên thấy cha bị đòn đau đớn ê chề, giận quá lấy búa đập phá hết các lu hũ chứa thuốc nhuộm. Người cha can ngăn bảo:
– Đây là nghề sống của gia đình mình, mày đập bể hết thì sống bằng nghề gì?
Bàng Quyên bảo:
– Cha bị nhục cũng vì làm nghề này. Nếu bỏ nghề này đi thì cha đâu bị đánh đập như vậy.
Hôm sau, Bàng Quyên cũng mang hành lý lên đường tìm thầy học đạo để sau này rửa hận. Anh ta đi đến gần chợ Châu Tiên thì thấy một người ngồi dựa lưng vào gốc cây nghỉ mệt. Bàng Quyên ngỏ lời:
– Này ông bạn, ông đang tính đi đâu mà giờ lại ngồi ở đây?
Người bạn đường nói:
– Tôi người nước Yên, tên Tôn Tẫn, đi tìm thầy Quỷ Cốc để học đạo.
Bàng Quyên tỏ vẻ mừng rỡ:
– Tôi cũng đi học đạo đây. Như vậy, hai chúng ta cùng là bạn học.
Hai người xưng tên nhau, quê quán và tuổi tác, Bàng Quyên nhỏ tuổi hơn, làm em. Tôn Tẫn lớn hơn hai tuổi, làm anh. Tôn Tẫn khuyên Bàng Quyên:
– Em ra chợ mua ít trái cây, bông, nhang và vàng bạc. Mình đến trước mộ Lăng Đạo thề nguyện kết nghĩa anh em. Em thấy thế nào?
– Em thấy như vậy là tốt.
Bàng Quyên vội cầm tiền ra chợ mua phẩm vật.
Sau khi lễ vật chuẩn bị xong, hai người cầm nhang khấn. Tôn Tẫn là anh khấn trước:
– Trên có Trời Thần Tiên Thánh, dưới có Thành Hoàng Bổn Xứ, con là Tôn Tẫn, người nước Yên, lớn hơn hai tuổi, làm anh kết nghĩa với Bàng Quyên. Có sách cùng đọc, có nghề cùng học, nếu sau này con có phản trắc thì bị làm cầm thú suốt đời.
Đến lượt Bàng Quyên vái:
– Trên có Thần Thánh, dưới có Thành Hoàng Thổ Địa. Tôi là Bàng Quyên, người nước Ngụy, kết làm em với Tôn Tẫn. Có sách cùng đọc, có nghề cùng học, nếu tôi phản bội sẽ bị bảy nước phân thây.
Tôn Tẫn nghe Bàng Quyên thề độc như vậy có ý buồn trách.
Sau khi thề thốt xong, Bàng Quyên nói với Tôn Tẫn:
– Anh đưa hành lý cho em gánh luôn.
Đi được một lát, Bàng Quyên nghĩ cách, giả vờ lảo đảo muốn té, Tôn Tẫn thấy vậy nói với Bàng Quyên:
– Nếu em mệt thì đưa hành lý cho anh gánh.
Bàng Quyên nghe thế mừng thầm trong lòng.
Hai người đi không bao lâu thì vào tới núi, thấy phía trước có dòng suối sâu nước chảy ào ào, chỉ có một khúc cây bắc ngang làm cầu. Hai người không dám qua, ngồi chờ một lát. Có lão tiều từ phía xa đi lại. Tôn Tẫn mừng rỡ tới vòng tay thưa:
– Thưa lão trượng, suối này tên là gì, cầu chỉ có một khúc cây tròn bắt qua thì làm sao qua được?
Lão tiều cười:
– Suối này tên là suối Ưu Sầu, cầu tên là Độc Mộc. Hai anh muốn đi qua bên đó làm gì?
Tôn Tẫn lễ phép thưa:
– Chúng cháu muốn vào động Thủy Liêm, tìm thầy Quỷ Cốc để cầu học.
Ông lão cười:
– Hai người muốn qua đó thì đưa cho tôi ít tiền. Tôi làm hai cái gióng gánh qua.
Hai người bạn đồng ý. Khi gióng làm xong bằng dây rừng thắt lại, lão Tiều nói thêm:
– Hai người, ai là anh, ai là em?
Bàng Quyên hơi bực mình:
– Cho tiền xong thì ông cứ gánh qua, hỏi chi ai anh ai em.
Ông tiều tỏ dáng nghiêm nghị nói:
– Theo lễ phép thường tình: ai lớn đi trước, ai nhỏ đi sau.
Bàng Quyên nghĩ: “Nếu lão gánh qua nửa chừng lỡ bị trượt chân, ông sẽ chụp lấy đầu trước, còn đầu sau ắt sẽ lọt xuống vực sâu”.
Bàng Quyên nói với Tôn Tẫn:
– Em bị yếu tim, anh để cho em ngồi phía trước.
Tôn Tẫn vỗ về an ủi:
– Em sợ thì ngồi gióng trước, anh ngồi gióng sau cũng được.
Qua cầu vài bước, lão tiều giả bộ như xiểng liểng. Bàng Quyên sợ quá la:
– Ông phải gánh cho cẩn thận!
Lão tiều bảo:
– Hãy nhắm mắt lại và ngồi yên, kẻo lọt xuống vực thì tất cả đều chết.
Hai anh học trò không dám nói gì thêm, nhắm mắt lại, nghe trên không có tiếng gió vù vù. Trong nháy mắt, ông tiều bảo đã qua khỏi cầu rồi, mở mắt ra.
Hai người mở mắt, không thấy ông lão đâu, hai chiếc gióng cũng biến mất. Tôn Tẫn vái vái trên không, như tạ ơn thần thánh.
Tôn Tẫn, Bàng Quyên đi được một đoạn đường xa thì tới cửa động Thủy Liêm. Thấy động đá đóng chặt, gõ cửa không ai mở. Đứng tần ngần một lúc, may thay gặp ông lão từ phía xa đi lại. Tôn Tẫn mừng rỡ vòng tay thưa:
– Thưa lão trượng, đây có phải là động của ngài Quỷ Cốc tiên sinh không? Cửa động đóng kín làm sao chúng con có thể vào được?
Ông lão gật đầu:
– Đây là động Thủy Liêm, hai cháu muốn vào thì đứng trước động thành tâm lạy mười lạy, cửa động sẽ mở. Nếu không thành tâm thì dù lạy cả trăm lạy, cửa động vẫn đóng kín.
Tôn Tẫn đứng trước lạy được 3 lạy, nhìn ra sau thấy Bàng Quyên vẫn đứng trơ trơ, vì anh ta nghĩ một mình Tôn Tẫn lạy thì cửa mở, nhọc chi đến mình.
Tôn Tẫn hối thúc:
– Em phải thành tâm cùng lạy với anh chứ.
Hai người lạy thêm được mười mấy lạy thì cửa động tự mở. Hai người mừng rỡ vào bái kiến Quỷ Cốc. Sau khi Quỷ Cốc hỏi họ tên, quê quán, cầu học thứ gì, Quỷ Cốc bảo:
– Ta ở đây cũng cần người quét dọn ngoài động, chăm sóc cây trái, trồng trọt làm vườn, hai người không thể cùng học một ngày được. Trời cũng gần tối rồi, ngày mai Tôn Tẫn học, Bàng Quyên ra làm vườn. Ngày mốt, Bàng Quyên học, Tôn Tẫn đi làm. Cứ thay phiên như thế.
Cả hai người đều vâng lời thầy Quỷ Cốc.
Qua sáng hôm sau, Tôn Tẫn được thầy chỉ dạy, chăm chú nghe. Chiều tối về, Bàng Quyên nghe Tôn Tẫn ôn bài, đến gần hỏi:
– Ngày nay anh học được gì? Chỉ em cùng học với.
Tôn Tẫn thành thật chỉ dạy cặn kẽ những lời thầy dạy trong ngày cho Bàng Quyên. Ngày hôm sau Bàng Quyên học, Tôn Tẫn làm vườn. Chiều tối về, sau khi ăn uống xong, Tôn Tẫn đến nói với Bàng Quyên:
– Ngày nay em học được những gì? Chỉ lại cho anh học với.
Bàng Quyên chặc lưỡi, lắc đầu:
– Lúc anh đi làm, em chưa kịp học được gì thì khách đến, em phải bận phục vụ trà nước suốt buổi sáng. Chiều thầy mệt, có dạy được gì đâu.
Cứ thế, Bàng Quyên luôn tìm cách thoái thác không chỉ lại cho Tôn Tẫn những điều thầy truyền dạy.
Ngày tháng trôi qua đã ba năm. Một hôm, Tôn Tẫn và Bàng Quyên ra khỏi động thi thố tài học. Bàng Quyên thấy tài mình trội hơn nhiều, đắc ý mỉm cười.
Hôm sau Tôn Tẫn cùng Bàng Quyên làm lễ tạ thầy xin xuống núi. Quỷ Cốc bảo:
– Bàng Quyên thông minh sáng láng, học giỏi biết nhiều, xuống núi thì được. Còn Tôn Tẩn đần độn, học chẳng ra chi, về để làm gì, phải chịu khó ở lại học thêm một thời gian.
Tôn Tẫn quỳ lạy thưa:
– Bạch thầy, hai chúng con thề kết nghĩa anh em, không nỡ kẻ đi người ở. Thầy cho chúng con về cùng một lúc.
Thầy bảo:
– Hai người muốn về thì về.
Hai bạn mang hành lý xuống núi, đi được một đoạn đường, gặp hai cha con ông đục núi đào đất. Tôn Tẫn đến hỏi:
– Lão trượng đục núi làm gì?
Ông lão nói:
– Từ đây qua nhà lão phải đi vòng qua ngọn núi này, đường vừa xa vừa gập ghềnh khó đi. Nay lão đục núi làm đường đi tắt qua nhà lão cho gần.
Tôn Tẫn thưa:
– Ông tuổi già sức yếu, biết chừng nào mới làm thành con đường được.
Ông nói kiên quyết:
– Đời của ta không xong, đến đời con đời cháu cũng sẽ xong.
Hai anh em Tôn Tẫn – Bàng Quyên đi thêm một đoạn đường nữa, gặp bà già đang mài cây sắt trên tảng đá, vừa mài vừa thở hổn hển nói:
– Cây kim nhà ta gãy, ta mài làm cây kim mới để may vá.
– Thưa bà, thanh sắt to lớn thế này mài đến bao giờ mới có thể thành được kim?
– Con không nghe người ta nói: “có công mài sắt có ngày nên kim” đó sao?
Gặp hai việc lạ xảy ra, Tôn Tẫn thầm nghĩ: “Ta học hành chưa đến nơi đến chốn, về nước lúc này đâu giúp được gì?” Tôn Tẫn liền lấy bút giấy, viết lá thư gởi thăm cha mẹ, đồng thời nhờ cha mẹ tiến cử Bàng Quyên cho vua nước Yên sử dụng. Tôn Tẫn quay trở lại động thầy Quỷ Cốc học thêm.
Bàng Quyên về đến nước Yên, tìm đến dinh của Tôn Tháo dâng thư. Tôn Tháo nửa mừng nửa buồn. Mừng là con mình vẫn được khỏe mạnh, buồn vì quá lâu chưa được gặp con. Tôn Tháo sau khi nhận được thư liền dẫn Bàng Quyên vào triều để tiến cử làm quan giúp Yên chúa.
Vua Yên xem tướng, thấy Bàng Quyên có tướng phản trắc, ăn nói phách lối, hách dịch phạm thượng, từ chối không nhận, lấy ý đuổi khéo:
– Nước ta từ xưa đến nay không nhận người nước ngoài làm quan, khanh có thể đến nước khác.
Việc không thành, Bàng Quyên phải trở về nước Ngụy. Đi đến cầu Tân Lương, thấy phía trước có đoàn xa mã đi tới, Bàng Quyên sợ chui xuống gầm cầu trốn. Hôm đó, quan thừa tướng Trịnh An Bình hộ giá Ngụy chúa qua triều cống nhà Chu. Không hiểu sao, con ngựa chở quan thừa tướng đứng dùng dằng, đánh mấy cũng không chịu đi. Trịnh An Bình sai quân khám xét hai bên đường, thấy có một người ngồi trốn dưới gầm cầu, bắt lên tra hỏi thì ra người ấy chính là Bàng Quyên, con của người thợ nhuộm Bàng Hoàng, suốt thời gian qua đã đi học võ để mong trả thù cho cha bị đánh ngày trước. Thừa Tướng sai quân đem Bàng Quyên nhốt vào thiên lao, chờ ngày trở về sẽ xét tội sau.
Vua tôi nhà Ngụy sau khi triều cống nhà Chu xong trở về chưa kịp xử tội Bàng Quyên thì xảy ra việc vua Tề sai Điền Ky đem quân sang phạt Ngụy, lấy cớ là hứa đổi hai thành lấy hạt châu Tị Trần mà nửa đêm bỏ trốn, ăn yến mà không tạ ơn. Quân Tề áp sát thành Ngụy, quân Ngụy chống không lại. Ngụy vương phải sai lập bản chiêu hiền khắp nơi để kêu gọi người tài ra giúp nước.
Bàng Quyên ở trong tù nghe ngục tốt bàn tán xôn xao chuyện quân Ngụy không chống nổi quân Tề, phải đăng bảng chiêu hiền. Bàng Quyên bảo ngục tốt:
– Các anh vào tâu với vua Ngụy, Bàng Quyên ta có thể đẩy lùi quân Tề ra khỏi nước.
Ngụy chúa ra lệnh dẫn Bàng Quyên ra đối chiếu. Nếu thắng được binh Tề, bắt tướng Tề làm con tin thì được gả công chúa, phong làm phò mã, kiêm chức Đại Nguyên soái. Sau khi Bàng Quyên viết lời cam kết, vua cấp quân tướng cho Bàng Quyên điều trận. Bàng Quyên chỉ đánh một trận thôi đã bắt sống tướng Tề là Điền Ky. Chủ tướng bị bắt, quân Tề rút lui chạy về nước.
Bây giờ, Vương Ngao, người nước Ngụy, khuyên Ngụy vương rước Tôn Tẫn về giúp nước thì có thể thu phục hết sáu nước về Ngụy. Vua Ngụy sai Từ Giáp lên động Thủy Liêm rước Tôn Tẫn về. Từ Giáp vâng lệnh lên núi, đi lại đến ba lần mới có thể đưa Tôn Tẫn về Ngụy được. Vua Ngụy phong Tôn Tẫn làm chức Đoàn Luyện xứ, tức dạy luyện binh lính, các quan thấy vua chỉ phong một chức nhỏ cho Tôn Tẫn, chức đó không xứng với Tôn Tẫn, và như vậy rất khó thuyết phục được những người hiền tài ra giúp nước.
Vua bảo:
– Vậy phong chức gì?
Các quan đồng tâu:
– Cho Tôn Tẫn với Bàng Quyên thi tài, ai thắng thì thăng chức lớn, ai thua thì giáng chức.
Trong ba cuộc thi tài đó, Bàng Quyên đều thua, Bàng Quyên cảm thấy bị làm nhục. Tối hôm ấy, Bàng Quyên xem tinh tượng biết hỏa tinh tối nay sẽ sa xuống thành gây hỏa hoạn. Bàng Quyên mừng: “đây là dịp để ta trả mối hận bị hắn giật dây làm ta ngã nhào xuống ngựa giữa ba quân”.
Bàng Quyên bèn đến gặp Tôn Tẫn nói:
– Em tối nay bận nhiều việc quan quân, không tuần hành được. Anh chịu khó thay em làm việc này.
Tôn Tẫn nói:
– Em bận thì để việc tuần hành cho anh.
Tôn Tẫn bấm quẻ cũng biết vào nửa đêm sao hỏa sẽ sa xuống thành gây hỏa hoạn, liền dẫn ít quân đi tuần đem theo mõ, chiên, trống và cây gậy. Chờ đến nửa đêm, Tôn Tẫn ra lệnh nổi trống chiên khua phèn la inh ỏi.
Trời chưa sáng, Ngụy chúa triệu Bàng Quyên vào triều hỏi:
– Tối qua có việc gì mà náo loạn cả thành?
Bàng Quyên cúi tâu:
– Thừa lúc nửa đêm vắng vẻ, Tôn Tẫn dẫn quân khởi loạn, nhờ phúc của bệ hạ, thần đã dẹp được loạn, bắt được Tôn Tẫn xin bệ hạ sớm xét xử.
Ngụy chúa nổi giận phán:
– Chém đầu bêu ngoài chợ.
Bàng Quyên liền ra thành bắt trói Tôn Tẫn, bảo:
– Bệ hạ bảo: xử trảm anh ngay tại chỗ.
Tôn Tẫn kêu oan, Bàng Quyên giả vờ che chở cho Tôn Tẫn, liền lôi vào triều tấu:
– Tôn Tẫn đáng tội chém, nhưng hắn là con của Tôn Tháo, phò mã nước Yên, sợ vua Yên mang quân đánh phá nước ta thì nhân dân đồ thán. Mong bệ hạ ban lệnh xử cách nào khác hơn để nước Yên không có cớ đánh ta.
Vua Ngụy bảo:
– Theo phò mã xử cách nào ổn hơn?
– Thưa bệ hạ, chặt chân hắn thì ổn nhất, hắn không chết, Yên chúa không có cớ để đánh ta, Tôn Tẫn vẫn còn sống nhưng trở thành người vô dụng.
Vua Ngụy phán:
– Y kế phò mã, hãy làm gấp.
Bàng Quyên già vờ hốt hoảng chạy lui chạy tới, tỏ vẻ như đang xót thương và lo lắng cho Tôn Tẫn:
– Em đã hết lòng xin Ngụy chúa tha tội cho anh, nhưng Ngụy chúa phán: “tội chết thì tha, nhưng tội chặt chân phải xử”.
Tôn Tẫn khóc lóc năn nỉ:
– Anh thà chịu chết, nhất định không thể sống để thành người vô dụng.
Dù Tôn Tẫn nói thế nào, Bàng Quyên vẫn sai quân dẫn Tôn Tẫn ra chợ Vân Dương để xử chém. Chính Bàng Quyên tay cầm đồ đao chém đứt 10 ngón chân của Tôn Tẫn, máu phun lai láng, Tôn Tẫn ngất xỉu hồi lâu mới tỉnh.
Tôn Tẫn bị biệt giam trong vườn, chợt nhớ lại khi xuống núi, thầy Quỷ Cốc có cho một chiếc hộp, dặn khi nào gặp sự việc mà tự mình không giải quyết được, thì hãy mở ra xem. Tôn Tẫn mở chiếc hộp, thấy bên trong có một gói thuốc bột xoa vết thương, và thấy một tờ giấy khuyên hãy giả điên. Tôn Tẫn y lời thầy dặn, lấy thuốc bôi lên vết thương, vết thương bớt đau nhức, nhưng lại phân vân không biết phải giả điên như thế nào. Tôn Tẫn than thở, tưởng rằng học được thiên thư: Bát Môn Độn Pháp, Lục Giáp Linh Văn đến giờ tự thân mình không cứu khỏi nạn của mình. Bàng Quyên ở bên nghe Tôn Tẫn học được thiên thư, Bát Môn Động Pháp, rồi nghĩ: “phải nhờ hắn viết lại cho mình.” Bàng Quyên giả bộ lân la thân tình thăm hỏi:
– Em nghe anh nói thầy đã truyền dạy cho anh Bát Môn Độn Pháp, Lục Giáp Linh Văn. Nếu anh còn nhớ thì viết lại cho em học cùng.
– Anh còn nhớ hết, em đem giấy mực đến đây, anh viết cho.
Tôn Tẫn viết gần xong thì thấy con lằn xanh đậu trên đĩa mực bay xuống tờ giấy vẽ ngoằn ngoèo thành chữ “giả điên”.
Lại, con gái của Bàng Quyên, tên Yến Vân, được 3, 4 tuổi, khi theo người hầu gái tới chỗ Tôn Tẫn bỗng thốt lên:
– Ông đã viết xong chưa? Khi viết xong, cha tôi sẽ giết ông.
Người hầu vội bồng Yến Vân đi chỗ khác.
Tôn Tẫn nghĩ thầy dặn mình nên giả điên là như vậy.
Trưa hôm ấy Bàng Quyên đến chỗ Tôn Tẫn nhằm hối thúc viết xong thiên thư. Bàng Quyên giả bộ nếm thức ăn rồi nhăn mặt đánh con hầu mấy roi, trách:
– Mày nấu ăn như vậy anh ta ăn sao được? Mày khinh anh ta như vậy thì cũng chẳng khác nào như đang kinh chính ta!
Đứa ở không dám khóc, chờ Bàng Quyên ra về, đứa ở mới khóc.
Tôn Tẫn hỏi:
– Tại sao vậy? Khi nãy mày không khóc, bây giờ mày lại khóc?
Đứa ở nói:
– Tôi thương tình, thấy ông chân thật mà gặp phải người bạn ác.
Thế là Tôn Tẫn giả điên thật, lúc cười lúc khóc, lúc ca lúc hát.
Bàng Quyên chạy tới hỏi:
– Anh sao vậy?
Tôn Tẫn bảo:
– Ta là thần Lục Đinh Lục Giáp sai đến giết mày.
Thế là bao nhiêu giấy đã viết, Tôn Tẫn cho vào miệng nhai nát, giẫm đạp tứ tung và ném vào mặt Bàng Quyên.
Tôn Tẫn đã điên thật, trốn ra khỏi vườn Bàng Quyên, ra ngoài gặp các quan đi triều về, hốt đất đá ném đầy mình. Ban ngày thì giao du với bọn ăn xin, tối ngủ đầu đình xó chợ. Lần hồi trốn ra khỏi nước Ngụy, tìm đến sống ở nước Tề. Sau đó giúp Tề đánh bại nước Ngụy, dụ Bàng Quyên đến gần chợ Châu Tiên nơi Mã Lăng Đạo, bắt sống được Bàng Quyên trả mối thù chặt chân 3 năm trước.
Sau khi trả được mối thù chặt chân, Tôn Tẫn rút lui vào núi ẩn cư. Những thiên thư Bát Môn Độn Pháp, Lục Giáp Linh Văn tưởng như bị mất tích theo cây lá của núi rừng u tịch…
Nào ngờ…
