ĐƯỜNG ĐI NHIỀU NGÕ
Viên Hạnh – Triều Tôn
Phần 11:
THẦN THÁNH TIÊN ĐẠO
Câu chuyện này nói về Đại đức Trung Từ chùa Phú Mỹ: một hôm rảnh rỗi, Đại đức đến chùa Phước Điền gặp Thượng tọa Quảng Đạo để thưa hỏi một vài vấn đề mà thầy muốn biết thêm.
Đến chùa, Thượng tọa đang lúc xắn quần ống cao ống thấp lom khom tưới cây cảnh, mỉm cười hỏi:
– Thầy hôm nay rảnh đi chơi?
Đại đức Trung Từ chắp tay xá chào và nói:
– Dạ thưa Thượng tọa, để con tưới cho.
Thượng tọa Quảng Đạo tay còn cầm ống nước, tưới thêm mấy chậu hoa còn lại, bảo:
– Thôi, Thầy vào bàn ngồi chơi, tôi làm khoảng năm phút nữa là xong.
Sau khi khóa nước, kéo hai ống quần xuống, hai ống quần nhăn nheo như cái lò so, Thượng tọa Quảng Đạo vào trong lau tay lau mặt, châm thêm bình nước trà, kéo ghế ngồi và hỏi:
– Thầy đến có chuyện gì?
– Dạ, thưa Thượng tọa, con muốn rõ thêm về thánh thần tiên đạo.
– Những vấn đề này rất phức tạp.
– Dạ, vì có nhiều điều con chưa rõ, nên con đến để thưa hỏi. Thưa Thượng tọa! Thánh thần tiên đạo khác nhau như thế nào? Thần có từ đâu? Trong đạo Phật mình có thần không?
Thượng tọa hơi tỏ vẻ nghiêm khắc:
– Toàn chuyện nhức đầu, những điều này khá phức tạp, thôi thầy biết tới đâu nói tới đó. Thần phát xuất từ Trung Hoa. Vị thần đầu tiên là Bá Giám. Bá Giám là nguyên soái của vua Huỳnh Đế có công đánh giặc Xi Vưu, sau khi chết ở Biển Bắc được phong là phúc thần. Có lẽ, sau khi dụ nhập vào Việt Nam Bá Giám được đọc thành Hà Bá (theo âm Việt Nam) là vị thần cai quản sông ngòi biển cả. Sông và biển chiếm hết ba phần tư diện tích trái đất, cực kỳ quan trọng cho sự sống loài người, kể cả giếng nước người ta cũng rất tối kỵ. Vô cớ lấp ao hồ, giếng nước là tội khá lớn, vì đó là nơi các loài thủy tộc sinh sống, tôm tép cá chình ếch nhái bị hại mạng tội cực lớn. Do đó thần Bá Giám (Hà Bá) là phúc thần.
Khi Chu Vũ vương rước được Khương Tử Nha, còn gọi là Khương Thương, về làm thừa tướng, lúc này Khương Tử Nha đã 80 tuổi, vừa tài phép vừa mưu lược, và được tôn xưng là Thượng phụ. Sau khi đánh chiếm được 5 thành bảo vệ cho Triều Ca, kinh đô nhà Thương, Chu Vũ vương đã tập hợp 800 chư hầu vượt sông Hoàng Hà đánh thẳng vào kinh đô. Vị vua cuối cùng của nhà Thương là vua Trụ, quá đam mê tửu sắc, nghe lời của Đát Kỷ, lập Bào lạc([1]) để hại tôi trung can gián, chế Sái bồn([2]) để ném các cung phi bất mãn cho rắn ăn thịt, xây cất Lộc Đài([3]) bắt dân nghèo làm phu không trả công, kẻ giàu đút lót cho quan tham để được miễn dịch, công khố trống rỗng, khi thành Triều Ca bị bao vây, quân tướng nhà Thương không chống nổi, Trụ Vương phải lập giàn hỏa tự thiêu, Đát Kỷ bị xử chém. Nhà Thương mất, nhà Tây Chu lên thay. Tử Nha sai Bá Giám lập đài Phong thần, phong cho những tướng của hai bên tử trận làm thần. Có đến 365 tướng được phong thần. Từ đời vua Huỳnh Đế trên mấy nghìn năm chỉ có một vị thần là Bá Giám, đến đời Tây Chu tăng lên 365 vị thần, chẳng hạn như tướng Hoàng Phi Hổ cùng bốn đệ tử kết nghĩa được phong thần Ngũ Nhạc, cai trị năm ngọn núi. Thái sư Văn Trọng (thừa tướng nhà Thương) cai quản các thần: sấm chớp, kéo mây làm gió, làm mưa. La Tuyên được phong Hỏa Đức Tinh Quân. Lữ Nhạc được phong thần Ôn Dịch. Kim Linh Thánh mẫu được phong làm Bắc Đẩu Chính thần, cùng nhiều vị thần khác, kể cả thần coi việc sinh đẻ. Về sau các vị thần biến tướng: có thiện thần ác thần, còn thánh thì không làm việc ác, chỉ có ủng hộ, bảo trợ dân lành. Trong Phật giáo chỉ có Thánh. Thánh chỉ cho các vị Hộ Pháp. Ở một số chùa, nơi chính điện thờ Phật Di Đà, hai bên là Quán Âm và Thế Chí; gọi là Tây Phương Tam Thánh. Nếu thờ ba tượng: Di Đà, Thích Ca, Di Lặc, gọi là Tam Tôn. Trong kinh thỉnh thoảng có nhắc đến chữ “Thần” là thần Kim Cang, cũng là vị Hộ Pháp, và thần Kim Súy Điểu. Kim Súy Điểu là chim đại bàng cánh vàng, vừa to lớn vừa hung dữ, chuyên bắt rồng ăn thịt, Phật đã chế phục nó bằng cách dạy người xuất gia khi dùng cơm chừa ra một ít cho vào chén (khoảng 7 hạt cơm) rồi đọc kệ chú nguyện, cơm thành vị cam lồ (vị ngon), nó ăn cơm thấy ngon như ăn thịt. Không rõ những con cháu của nó sau này có còn ăn chay nữa hay không?
Nay nói thêm về loài chim đại bàng, người Việt Nam ta có câu đánh giá về loại chim này: Nhất Điểu, nhị Ngư, tam Xà, tứ Tượng. Con vật uy dũng nhất, đáng sợ nhất là loại chim Đại bàng. Ở nước Lào ngày xưa,vì núi non đồng trống nhiều, dân thưa thớt, người Lào ai cũng sợ loài chim này. Thú nuôi như heo, lừa, dê, ngựa bị đại bàng bắt ăn thịt quá nhiều; trẻ con rong chơi nơi đồng trống cũng bị loài chim này sát hại không ít. Người Lào phải cầu khẩn Phật và các vị thánh thần che chở. Con cháu loài chim này trải qua thời gian lâu dài cũng bị biến tướng: màu vàng kim bị pha tạp các màu khác như xám, trắng, đen, vóc dáng nhỏ hơn nhưng tính hung dữ không thay đổi (muốn rõ hơn nên xem Tiêu Diêu Du – Tề Vật Luận của Trang Tử). Con vật lớn thứ hai là cá Kình, hay còn gọi là Kình ngư, trong kinh Phật nói là cá Ma Kiệt. Con vật to lớn và hung dữ thứ ba là mãng xà, có thể là rắn hổ mang chúa. Khi gặp đối nghịch, loại rắn này ngóc đầu cao lên, phùng mang, phun độc cực kỳ nguy hiểm. Con vật thứ tư tuy to lớn nhưng tính hung dữ không bằng ba loại kia, đó là tượng, tức con voi.
Đại đức Trung Từ hỏi:
– Thưa Thượng tọa, còn tiên đạo là sao?
Thượng tọa Quảng Đạo khẽ tằng hắng một tiếng rồi nói:
– Những người thấy chán cuộc sống ở nhân gian: cầu danh, háo lợi, ganh đua, giành giật, và tranh chấp quyền lợi. Họ muốn chọn cuộc sống nhàn hạ ở núi rừng hang động, nơi đó họ tu luyện mong được trường sinh bất lão. Vị tổ khai sáng đạo tiên là Lão tử (Lão Đam), với cuốn sách gối đầu giường là Đạo Đức kinh. Sau này đạo Tiên tách ra hai phái: Xiển giáo và Triệt giáo. Xiển giáo chọn đệ tử là những người chân thật. Còn Triệt giáo ai muốn vào tu thì cứ vào, không chọn lựa chơn chất hay hư ngụy, kể cả thú vật tu lâu thành tinh cũng được nhập vào hàng đệ tử của Triệt giáo. Từ đó, hai phái đối lập và phê phán lẫn nhau. Khi Tử Nha đăng bảng phong thần, hơn hai phần ba đệ tử Triệt giáo chết trận có tên trong bảng phong thần. Do vậy số lượng thiện thần ít, trong khi ác thần lại nhiều. Những người thờ thần lạy thần cũng nên dè dặt cẩn thận.
Việt Nam ta bị ảnh hưởng văn hóa thờ thần của Trung Hoa cho nên có nhiều thần: Sơn Thần, Thủy Thần, Địa Thần, Thần Bổn Mệnh, Thần Táo….
Chú thích:
[1] Bào Lạc, một công cụ chuyên hành hình các quan thần, đó là một ống đồng thật to rỗng ruột, bên dưới là miệng lò dùng để chụm than củi vào, hành hình bằng cách chất củi nung cho cột đồng nóng đỏ rồi đưa nạn nhân đến dí nguyên người nạn nhân vào ống đồng cho thịt da cháy khét, nạn nhân giãy chết rất thê lương.
[2] Sái Bồn, hoặc còn gọi Tẩy Bồn, là một cái hào to và sâu, trong đó có rất nhiều rắn độc. Khi hành hình, người ta lột hết y phục của nạn nhân rồi xô vào bồn để lũ rắn thay nhau cắn mổ nạn nhân đến chết.
[3] Lộc Đài, theo truyền thuyết Trung Hoa, Trụ Vương xây “Lộc Đài” để hưởng lạc, ăn chơi với Đát. Công trình này được miêu tả là một cung điện nguy nga, nơi tổ chức yến tiệc xa xỉ, tra tấn người vô tội, và thực hiện các trò tàn ác.
