Ảnh màn hình 2026-01-27 lúc 09.07.52

Đường Đi Nhiều Ngõ

Viên Hạnh – Triều Tôn

Phần 1:

Ăn Tết – “Dìa Quại”([1])

Tết năm đó, nó được ba tuổi, má mua cho nó một bộ đồ mới, một con gà cồ được nặn bằng đất sét, sơn cánh đỏ, mào đỏ, mỏ vàng, trên lưng có lỗ để thổi  hơi vào và phát ra âm thanh giống như tiếng gà. Nó thích vô cùng.

Mùng Một Tết, mới tờ mờ sáng, má lấy bộ quần áo mới mua chiều hôm trước cho nó mặc, nó rất vui. Nó vào bàn lấy con gà cồ bằng đất ra ngồi trên ngạch cửa thổi tu tu.

Nó là con đầu lòng, chưa có em, nên được cưng chiều hết mực.

 Ăn Tết ở nhà được hai ngày, mùng Ba, má dắt nó về ngoại ăn tết.

Bà Ngoại, dì Hai, cậu Ba, ai cũng mừng vui, cho nó tiền, nó đem khoe với má.

Má cười bảo:

– Đưa cho má cất giùm, mai mốt má mua cho cái mũ mới, giày mới.

Suốt sáng hôm đó nó được rong chơi trên bờ biển với bạn bè phía ngoại. Nó cảm thấy thích thú vô cùng.

Biển lô nhô ghềnh đá, cục to cục nhỏ, những con nha,[2] con cua, con còng, cá bống bò lên xuống qua lại theo sóng nhấp nhô. Nó thấy đẹp lạ vô cùng.

Chơi lâu cũng chán, nó về nhà ăn cơm trưa với bánh tét, mứt rim. Sau đó cả nhà Ngoại lại tiếp tục chơi bài tứ sắc. Nó thấy những con bài thẻ đỏ vàng xanh trắng xinh đẹp chia cho mỗi người vài mươi con. Nó không biết chơi thế nào.

Ở lâu cũng buồn, nó thấy nhớ nhà, nó ôm vai má thúc giục nhiều lần:

– Dìa má.

Má bảo:

– Chút nữa má dìa.

Nó không chờ lâu được, bỏ đi lang thang ra chợ “Huyện”, cách nhà Ngoại hơn một cây số. Người đi chợ chiều thấy một đứa bé đi lạc, không biết là con của ai, ông Năm Gia, người kéo xe mướn la lên:

– Thằng Khôi, con ông Chí ở Phương Lưu đó.

 Ông ẵm nó lên xe và kéo về nhà. Cả nhà ông Nội nó: chú (cha), cô Hai nó reo la inh ỏi, không biết có ai trả tiền xe cho nó không.

Lớn lên cùng gia đình

Thời gian trôi qua, nó có em trai rồi có thêm em gái. Nó phải trông giữ chăm sóc cho cả hai đứa em.

Đứa em trai tính tình ngang bướng, muốn thứ gì phải đòi cho bằng được, nếu không sẽ nằm vạ khóc lóc,đánh đạp.

Năm lên sáu, bảy tuổi, chú má[3] nó hàng ngày phải đi làm ruộng rẫy, nên dạy nó cách nấu cơm xáo bột bắp (cơm ghế). Nó vừa kiếm củi, vừa nấu ăn, lại phải coi ngó hai đứa em, vô cùng vất vả.

Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 (1939 – 1945) chấm dứt, nạn đói từ miền Bắc lan đến miền Trung cực kỳ khốc liệt. Miền Trung từ tỉnh Quảng Nam đến tỉnh Phú Yên là Chiến khu 5, đây là vùng Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Trên đất liền, Pháp không chiếm đóng bất kỳ nơi nào. Thỉnh thoảng quân Pháp đổ bộ lên đất liền, đi sâu vào vài cây số, đốt phá bắn giết. Những chiếc ghe bầu của nhà ông Tặng Dị không còn vào Phan Thiết, Vũng Tàu, Sài Gòn mua bán gạo và thực phẩm được nữa. Những chiếc ghe to lớn phải đưa lên bờ, lật úp lại để bảo dưỡng, nhưng tất cả đều bị quân Pháp đốt hết, lửa đỏ khói đen ngùn ngụt suốt cả ngày đêm. Những cây cầu dọc đường xe lửa như cầu Đá Hàn, cầu Cây Cam bị ném bom. Những cây cầu dài trên đường quốc lộ 1A, gọi là đường cái quan, cũng bị đánh sập. Chùa Cảnh Phước, chùa Thiên Tôn ở huyện Tuy An cũng bị bắn cháy. Đường lộ lớn bị đào hào chằng chịt, suốt 9 năm không có một chiếc xe đạp nào chạy trên đường. Những ngôi nhà xây bằng gạch lợp ngói nếu có 2 căn thì đều bị đập phá một căn theo chính sách “tiêu thổ kháng chiến”. Nhà cửa làng mạc nhiều nơi bị bắn phá hoặc thả xăng đốt cháy. Trường học đều là mái tranh vách đất nhỏ, không có ngôi trường nào rộng quá 3 căn. Ghế ngồi được làm từ hai hoặc ba cây tre cây cau ghép lại. Phấn viết cũng thiếu, thầy cô phải nhờ học sinh tìm những lát sắn mì khô để làm phấn viết bảng. Trẻ con đi học ngày hai buổi, thỉnh thoảng diễu hành “hoan hô đả đảo”. Thanh niên phải đi bộ đội. Những người cha, đàn ông lớn tuổi, kể cả phụ nữ khỏe mạnh phải tham gia chiến dịch dân công, gánh gạo tiếp tế cho chiến trường Tây Nguyên hoặc Bắc Khánh Hòa. Các mẹ, các chị nhận lúa xay giã thành gạo và nạp vào kho. Đàn ông lớn tuổi không làm được việc nặng thì đi chặt tre đan giỏ gánh gạo. Còn những người phụ nữ lớn tuổi, nếu lúc nhỏ không có cơ hội đến trường, thì lúc này, đêm đêm xách đèn đến trường để học “bình dân học vụ”; khi đi chợ hoặc đi đâu gặp các chốt chặn “đố chữ”, nếu không đọc được họ đều bị đuổi về.

Đi học

Chú dẫn nó đến trường trong thôn để học. Trường là trụ sở của thôn, lợp tranh; học chưa được mấy tháng, đến mùa bão lụt, ngôi trường đã bị sụp đổ. Ban học vụ mượn được một căn nhà của người dân ở tận thôn Chánh Nam (nay là khu phố Mỹ Thành) làm lớp học, ngày học 2 buổi. Bà Nội hoặc má nó sáng dậy sớm nấu cơm, gói cho nó một mo cơm. Thức ăn là mắm ruốc hoặc muối mè. Nước uống thì không có gì để xách theo, phải uống nhờ nước giếng của những nhà gần đó. Trường bắt buộc học sinh phải đào hầm để trốn bom đạn. Có những ngôi trường ở nơi gò núi toàn đá, phương tiện chỉ có cuốc, không có xà beng, phải đào nhiều ngày trước khi đi học. Học sinh đến trường, trước phải xem các hầm trốn bom đạn có con gì rơi xuống không, cực nhất là khi thấy bên dưới có rắn rít, cóc nhái, phải tìm mọi cách đưa chúng lên. Lớp học lúc nào cũng im phăng phắc, chỉ có tiếng thầy cô hoặc tiếng học sinh trả bài. Tuyệt đối học sinh không được nói chuyện ồn ào. Tại sao phải như vậy? Vì mọi người ai cũng phải chú ý lắng tai nghe tiếng động cơ máy bay, vừa nghe tiếng “vu vu rồ rồ”, tất cả đều bỏ chạy xuống hầm trốn bom. Có những gia đình dọn ăn trên nền đất, khi nghe tiếng máy bay, tất cả đều bỏ chạy xuống hầm trốn, khi trở lại, thức ăn bị chó, mèo, gà ăn hết, vung vãi khắp nơi.

Vào chùa

Năm tháng qua mau, nó được chín tuổi. Một hôm bác Năm nó, người đời thường gọi là Thầy Năm, sau được gọi là Hòa thượng Thích Phước Trí([4]), nói với chú má nó:

– Này, chú má mày, hoàn cảnh của thằng Khôi quá tội nghiệp, nên cho nó vào chùa.

Thế là, chiều ngày mùng 8 tháng 2 năm Kỷ Sửu (1949), nó gói hành trang vào chùa. Hành trang chỉ là hai bộ quần áo cũ, được gói cẩn thận trong chiếc khăn chéo, nó từ giã chú má và mấy đứa em. Đứa em gái khóc lóc kéo tay nó không cho đi. Từ giã sự bịn rịn, nó theo chú Tám (chú Thông Tịnh) ra đi với đôi chân trần không giày dép, đem theo đứa bạn thân tình là con tò vò.

Đường đi thấy khác lạ, đèo Cao (đèo Xuân Đài) đá sỏi gồ ghề. Nửa đường nó được ngồi nghỉ mệt. Nhìn qua vịnh Xuân Đài, nó thấy chiếc tàu chiến của Nhật thời đệ nhị thế chiến (1939-1945) bị quân Đồng Minh bắn cháy đen ngòm với hai ống khói cao nhô lên trời. Sau năm 1995, công ty khai thác Đà Nẵng mua, tháo gỡ mấy tháng trời mới xong. Ước gì con tàu đó còn, khách du lịch Nhật Bản sẽ viếng thăm, nhìn lại chứng tích lịch sử vừa hào hùng vừa bi thương của mình, ắt hẳn thị xã Sông Cầu có được số ngoại tệ khá lớn.

 Lên đến đỉnh đèo, chú cháu đã mệt lừ, phải ngồi nghỉ. Thấy nó đem theo con tò vò, chú Thông Tịnh bảo:

– Thả nó đi. Đem theo làm gì?

 Thế là nó phải bỏ đứa bạn đường thân thương giữa núi rừng. Nó rưng rưng nước mắt, không biết nói gì.

Mặt trời sắp lặn về tây, dưới lưng chừng đèo vọng tiếng chuông công phu chiều. Chú Thông Tịnh chỉ tay về hướng có tiếng chuông trống tụng kinh chiều, bảo:

– Chùa nằm ở đó, gần tới rồi.

Cơm chiều được dọn trên tảng đá. Nó được chỉ cho chỗ ngủ là bộ phảng gỗ với một chiếc chiếu làm mền đắp. Không có gối. Nó ngủ bình thường như mọi giấc ngủ trước đó, tự nhiên nửa đêm thức dậy, ngồi trên bộ phảng thấy cảnh trống vắng, không chú má, không em, đứa bạn tò vò cũng đã bị bỏ rơi giữa rừng núi. Cảm xúc dâng trào, nước mắt ràn rụa, nó khóc òa một lúc rất lâu, sau đó, nó cũng phải nằm xuống ngủ tiếp.

Sáng dậy, chùa bảo nó cầm cái thúng rách đi lượm những chiếc lá xoài, lá gạo rụng trong kẽ đá quanh sân. Vài ngày sau, nó được dạy cách đóng chuông, dạy bài kệ thỉnh chuông, những bài sám ngắn, rồi Đại Bi, Bát Nhã. Vì không có kinh Nhật Tụng, chùa dạy nó bằng cách viết chữ lên tập vở để học. Nửa năm sau, nó được về thăm nhà. Nó khoe cho chú má, ông nội và tụi em những gì nó đã học thuộc. Mọi người khen nó học giỏi, nó mừng lắm.

Vài hôm sau, nó được dẫn trở lại chùa, và được cho đi học tại trường Cần Lương, An Thổ.

Sau lễ Đại tường của Hòa thượng Thiền Phương([5]) tại chùa Phước Sơn, Đồng Tròn xã Xuân Sơn; Hòa thượng Phúc Hộ về trụ trì chùa Từ Quang, còn Hòa thượng Phước Trí trở về trụ trì chùa Phước Sơn. Nó được luân chuyển một thời gian, lúc ở chùa Từ Quang, lúc ở chùa Phước Sơn, đến đi đổi thay không biết bao nhiêu lần, nay sống với vị thầy này, mai sống với vị thầy kia, nên trong cuộc đời của mình, nó có hai vị Bổn sư: Hòa thượng Phúc Hộ và Hòa thượng Phước Trí.

Lần lần tháng trọn ngày qua, nó được đi học xa, hết Nha Trang rồi Sài Gòn. Từ cách gọi là “nó”, người ta đổi thành “Chú”, thành “Thầy”, thành “Đại đức”, rồi thành “Thượng tọa”, “Hòa thượng” lúc nào không hay biết.

Nghĩ về quá khứ, thấy bùi ngùi xót thương. Bao người kính trọng, ông bà cha mẹ, bạn học lần lượt từ giã cõi trần ra đi vĩnh viễn, thời gian gọi “mày” gọi “nó”, gọi “tao” đâu có thể trở lại được nữa!

 

Viên Hạnh 

Ảnh: Hoà Thượng Viên Hạnh khi còn trẻ.

Chú thích:

[1] Tiếng địa phương của người dân Phú Yên, “dìa quại” là “về ngoại” (tất cả chú thích trong sách đều là của người viết).

[2] Con nha giống con còng, nhưng chỉ lớn hơn ngón tay, màu xanh đen, thường sinh sống trên những bãi đá phủ rong rêu ở gần biển.

[3] Chú má là ba má.

[4] Hòa Thượng Thích Phước Trí, thế danh Huỳnh Hữu Ân, sinh năm 1920, tại thôn Phương Lưu, Xuân Thọ. Ngài xuất gia tu học với ngài Thiền Phương tại chùa Phước Sơn Đồng Tròn. Năm 1936 – 1943, ngài theo học tại Phật học đường Tây Thiên, Báo Quốc, Huế. Năm 1947,ngài thọ Cụ túc tại Đại giới đàn chùa Bảo Sơn, Tuy An cùng với các ngài Khế Hội, Phước Ninh, Huệ Thắng…, do Hòa thượng Vạn Ân làm đàn đầu. Năm 1950, ngài thừa kế bổn sư trụ trì Tổ đình Phước Sơn. Đến năm 1962, ngài tiếp tục đảm nhiệm trụ trì Triều Tôn. Năm 1985, Hòa thượng Phước Hộ viên tịch, ngài Phước Trí kiêm luôn trụ trì Tổ đình Từ Quang Đá Trắng. Như vậy, cuộc đời của ngài gắn liền với ba ngôi Tổ Đình nổi tiếng của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên. Đến ngày 23 tháng 9 năm 2002, ngài an nhiên viên tịch, trụ thế 83 năm, với 55 hạ lạp.

[5] Hòa Thượng Thiền Phương, pháp danh Như Đắc, pháp tự Giải Tường,  thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 41. Ngài họ Dương, sinh năm Kỷ Mão (1879), tại làng Phong Thắng, huyện Tuy An, thuộc tỉnh Phú Yên. Ngài đã có công đào tạo được những bậc Tăng tài khả kính, đóng góp nhiều công lao cho Giáo hội, cho công cuộc hoằng pháp, như Hòa thượng Phúc Hộ, Hòa thượng Phước Bình (Hành Trụ), Phước Trí, Phước Cơ, Phước Ninh. Ngài thị tịch vào ngày 10 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1949), trụ thế 70 năm, với 55 hạ lạp, bảo tháp được an trí tại Tổ đình Phước Sơn.